Bài Giảng Video Quản Trị Thời Gian

Bài giảng quản trị thời gian

Bài giảng quản trị thời gian

Bài giảng quản trị thời gian cho 5 triệu sinh viên và 10 triệu lao động trẻ tại Việt Nam
A-Các video quản trị thời gian mới nhất
Khung bài học quản trị thời gian

Ma trận mức độ ưu tiên 1

Ma trận mức độ ưu tiên 2

B-Các video quản trị thời gian trước
Giá trị của thời gian

Đánh giá cá nhân đã quản trị thời gian hiệu quả hay chưa

Tại sao quản trị thời gian quan trọng

Kiểm toán thời gian

Kẻ cắp thời gian

Quản trị thời gian phải hiểu bản chất công việc

Quản trị thời gian hiểu chính mình

C- Các tip quản trị thời gian hiệu quả

Bài Giảng Dịch Vụ Khách Hàng

Bài giảng dịch vụ khách hàng

1-Xử Lý Khi làm Lỗi Khách hàng

2-Khách hàng muốn gì

3-Đo lường chất lượng dịch vụ

4-Dịch vụ khách hàng tuyệt vời Plus Services

5-bí quyết nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng

6-Các câu nói khách hàng không muốn nghe

Bài giảng đã có
7-Quy trình Multiple S phục vụ khách hàng

8-Văn hóa chăm sóc khách hàng

9-Kỹ thuật LEARN giải quyết khiếu nại

10-Khung 5 C giải quyết khiếu nại

11-Đo lường chất lượng dịch vụ 2

12-Đo lường chất lượng dịch vụ 1

Tự kỉ luật bản thân để tự do và thành công

Tự kỉ luật bản thân để tự do và thành công

“Người vô kỷ luật sẽ chỉ là nô lệ cho cảm xúc, sự thèm muốn và say mê” đó là câu nói nổi tiếng của Stephen R.Covey cha đẻ của cuốn sách nổi tiếng “7 thói quen của người thành đạt” cuốn sách gối đầu giường của các nhà lãnh đạo và các tỉ phú trên thế giới.
Bạn có bao giờ cảm thấy bản thân mình vô kỉ luật như ngủ dậy trễ, lười làm việc, coi ti vi suốt ngày, mọi kế hoạch của bạn đều bị gián đoạn bởi cảm xúc ? Bạn có tự nhủ rằng phải quyết tâm cứng rắn hơn vào lần tới nhưng lại sa đà như cũ? Hãy xem bài viết dưới đây, chắc hẳn nó sẽ thay đổi bạn sau khi đọc bài viết này.

Kỉ luật bản thân là tự do

Kỷ luật là tự do. Có thể bạn sẽ không đồng ý với phát biểu trên và chắc chắn nhiều người cũng thấy như thế. Khi nghe đến từ “kỷ luật” chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy nó thật kinh khủng, khắc nghiệt và gò bó, nó đồng nghĩa với việc mất tự do. Nhưng đối với Stephen R. Covey thì hoàn toàn ngược lại, ông nói rằng “người vô kỷ luật sẽ chỉ là nô lệ cho cảm xúc, sự thèm muốn và say mê”. Và về lâu dài, người vô kỷ luật sẽ thiếu đi sự tự do có được nhờ sở hữu những kỹ năng và khả năng nhất định – ví dụ như khả năng chơi nhạc cụ và biết thêm nhiều ngoại ngữ. Bạn có khả năng hoàn thành sớm các kế hoạch đã vạch ra và có nhiều thời gian hơn để làm việc khác. Bạn có thoải mái ngồi xem TV trong khi các kế hoạch chạy bộ, làm bài tập, chơi đàn đang chờ bạn xử lý hay không ?

Kỷ Luật Bản Thân (hay Tự Kỷ Luật) là hành động dựa vào lý trí thay vì cảm xúc nhất thời của bạn. Nó là việc vượt qua lòng ham thích và và nỗi sợ trong hiện tại vì mục đích ý nghĩa hơn cho cuộc sống. Vì thế, tính tự kỷ luật giúp cho bạn:

Tiếp tục thực hiện các ý tưởng và dự án sau khi sự nhiệt tình, hăng hái ban đầu đã bị xuống dốc.
Đi đến phòng tập thể dục khi bạn muốn nằm dài trên ghế salon và xem TV.
Dậy sớm để làm việc cho chính mình.
Nói “không” với việc “phá giới” chế độ ăn kiêng của bạn.
Kiểm soát chứng nghiện Facebook, xem TV hoặc game.
Ngồi vào bàn học đúng giờ và thường xuyên.

Kỷ luật bản thân giúp bạn vượt qua lòng ham thích và nổi sợ trong hiện tại để đạt mục đích ý nghĩa hơn.

Trước kia tính Tự Kỷ Luật từng là điểm yếu của tôi, kết quả là tôi thấy mình thiếu khả năng để làm vô số việc mà mình muốn, ví dụ như chơi guitar. Nhưng tôi đã cải thiện được, và tôi có thể nói rằng tính Tự Kỷ Luật đã giúp tôi dậy sớm vào lúc 5h sáng và viết bài viết này. Tin tôi đi, giờ này tôi chỉ muốn được cuộn mình trong chăn thôi, nhưng ham muốn ấy giờ đây đã chịu sự kiểm soát bởi lý trí có mục đích bên trong tâm thức của tôi.

1. Hiểu chính mình

Tự kỷ luật nghĩa là hành xử theo điều mà bạn thấy là tốt nhất, bất kể cảm xúc của bạn trong hiện tại ra sao. Chính vì thế đặc điểm đầu tiên của sự tự kỷ luật là phải tự nhận biết chính bản thân mình. Bạn cần quyết định xem hành động nào sẽ là tốt nhất cho mục tiêu và giá trị của bạn. Quá trình này cần sự soi xét bên trong bản thân bạn, và để hiệu quả nhất thì bạn nên viết nó ra.

Tôi cực kỳ khuyên bạn nên dành thời gian viết ra mục tiêu, mơ ước và tham vọng của mình. Tốt hơn nữa thì hãy viết ra một sứ mạng cuộc đời cho mình. Tôi thấy rằng việc viết ra như vậy giúp tôi hiểu rõ hơn mình là ai, thứ mà mình mong muốn và những điều giá trị với chính mình.

Dành thời gian viết ra mục tiêu, mơ ước và tham vọng để hiểu rõ mình là ai, thứ mình muốn và những điều giá trị đối với mình.

2. Nhận thức

Tự kỷ luật phụ thuộc vào việc nhận thức cả cái bạn đang làm và không đang làm. Bởi lẽ, nếu bạn không nhận thức được hành động của mình là thiếu kỷ luật thì làm sao bạn có thể hành động khác đi được cơ chứ?

Tính tự kỉ luật đòi hỏi bạn phải nhận thức những thứ vô kỉ luật mà bạn đang làm.

Khi bạn bắt đầu xây dựng tính tự kỷ luật, bạn sẽ nhận thức thấy mình đang làm những việc vô kỷ luật – ví dụ như cắn móng tay, bỏ tập thể dục, phá vỡ chế độ ăn kiêng hoặc kiểm tra facebook và mail một cách thường xuyên. Phát triển tính tự kỷ luật cần có thời gian, tuy nhiên chìa khóa ở đây là bạn phải nhận thức được hành vi thiếu kỷ luật của mình. Dần dần nhận thức này sẽ đến sớm hơn, nghĩa là thay vì thấy sự vô kỷ luật của mình trong khi đang làm những việc đó thì bạn sẽ nhận thức được điều đó trước khi bạn hành động như vậy. Nó tạo cơ hội cho bạn ra quyết định hành động đúng với mục tiêu và giá trị của mình.

3. Cam kết

Không chỉ là viết ra mục tiêu và giá trị của bản thân. Bạn cần phải có sự cam kết bên trong chính bản thân đối với những điều đó. Nếu không, khi chuông đồng hồ reo lúc 5h sáng thì bạn sẽ thấy chẳng hại gì nếu bấm nút tắt và tự nhủ “thêm 10 phút nữa thôi…”.

Viết ra mục tiêu và giá trị bản thân và cam kết thực hiện đến cùng.

Nếu bạn đang giằng co với sự cam kết, hãy quả quyết rằng bạn cần theo đuổi những gì mình đã nói là sẽ làm – bao gồm lúc bạn nói như thế và cách mà bạn đã cam kết. Tôi khuyến khích bạn nên có một hệ thống để theo dõi những cam kết của mình. Bởi lẽ “cái gì được đo lường thì sẽ dần được cải thiện”.

4. Can đảm

Bạn có để ý những giọt mồ hôi của người đàn ông trong bức ảnh phía dưới không? Không hề sai khi nói tự kỷ luật là một việc cực kỳ khó. Cảm xúc, sự thèm muốn và say mê là một lực cản rất lớn. Chính vì thế sự tự kỷ luật phụ thuộc rất nhiều vào lòng can đảm. Đừng giả vờ việc gì đó là dễ dàng đối với bạn trong khi thực tế nó rất khó khăn và gian khổ. Thay vào đó, hãy tìm kiếm lòng can đảm để đối mặt với khó chịu và mệt mỏi này. Hãy bồi đắp dần bởi những chiến thắng bản thân nhỏ nhặt, sự tự tin của bạn sẽ lớn mạnh hơn và lòng can đảm để có được tính tự kỷ luật sẽ đến dễ dàng hơn.

Tự kỷ luật là một việc cực kì khó đòi hỏi bạn phải cam kết thực hiện những kế hoạch có kỉ luật

5. Người huấn luyện bên trong

Giọng độc thoại trong đầu thường gây hại, những nó có thể có lợi ích rất tốt nếu bạn kiểm soát được nó. Khi bạn thấy bản thân mình đang phân vân, hãy nói chuyện với chính mình, tự động viên và trấn an bản thân. Và sau đó, giọng nói tự thoại này sẽ có khả năng nhắc nhở bạn hướng đến mục tiêu, gợi lên sự can đảm, thúc đẩy hoàn thành cam kết và giữ cho bạn tỉnh táo thực hiện nhiệm vụ trước mắt. Khi tôi có sự phân vân, tôi thường gợi lại câu nói: “Cái giá của sự kỷ luật thường ít hơn nhiều so với nỗi đau của việc hối tiếc”. Hãy khắc ghi câu này và gợi nhớ để nó khi bạn thấy mình đang lưỡng lự. Nó sẽ thay đổi cuộc đời của bạn.

Thi học sinh giỏi ở Mỹ và luyện ‘gà chọi’ ở… VN

Thi học sinh giỏi ở Mỹ và luyện ‘gà chọi’ ở… VN

Từ cách chuẩn bị cho đến cách thi và lựa chọn học sinh giỏi của Mỹ thật khác xa cách làm ở VN hiện nay.

Con trai tôi du học ở Mỹ theo học bổng. Sau một năm học lớp 10 tại một trường trung học danh tiếng có 107 năm truyền thống của tiểu bang Georgia, cháu may mắn luôn giữ vị trí số 1 và được thày cô khen ngợi. Khi còn ở Việt Nam, cháu cũng là học sinh giỏi Anh Văn, học sinh giỏi Tin học, từng ở trong đội tuyển của quận, của TPHCM. Vì vậy tôi cũng muốn tìm hiểu thi học sinh giỏi ở Mỹ sẽ như thế nào.

Ai thích thì… tự đăng ký thi

Đầu tiên tôi xem xét ở trường. Hóa ra các trường phổ thông ở Mỹ không tổ chức thi học sinh giỏi theo kiểu đồng loạt và đại trà như ở Việt Nam, nghĩa là thi đậu vào đội tuyển của trường, sau đó thi cấp quận, huyện, rồi chọn ra những em đứng đầu vào đội tuyển thi thành phố. Và cứ thế lên đến cấp quốc gia và sau chót là quốc tế. Tương tự, các trường phổ thông ở Mỹ cũng không thấy có các đội tuyển học sinh giỏi để “luyện gà chọi”.

Tôi tiếp tục tìm hiểu trên mạng Internet. Hóa ra ở Mỹ, có rất nhiều cuộc thi Toán dành cho học sinh giỏi cấp trung học phổ thông hàng năm được tổ chức. Có khoảng 24 cuộc thi tầm cỡ quốc gia hay khu vực lớn tổ chức hàng năm. Ngoài ra, còn các cuộc thi của từng tiểu bang và của những khu vực nhỏ hơn. Sơ sơ cũng cả trăm cuộc thi mỗi năm.

Nhưng thử xem cuộc thi lớn nhất là kỳ thi Toán học Mỹ (American Mathematic Competition – AMC) do Hiệp hội Toán học (HHTH) Mỹ tổ chức. Theo HHTH Mỹ, cuộc thi này đã có từ 60 năm nay. Hàng năm có 350.000 học sinh từ 6.000 trường trung học Mỹ tham gia kỳ thi này để giải các bài toán khó và trui rèn đam mê môn Toán. Cuộc thi này tổ chức cho các học sinh theo từng cấp lớp và sẽ có nhiều cấp độ khác nhau. Cấp độ cuối cùng, tất nhiên là sẽ vào Olympic Toán Quốc tế với 6 học sinh xuất sắc nhất.

Vậy làm thế nào để tham gia cấp độ đầu tiên của Kỳ thi này? Câu trả lời từ HHTH Mỹ rất đơn giản là ai cũng có thể tham gia. Bạn chỉ cần đăng ký một khoản lệ phí trực tuyến từ 50 – 60 USD (tùy cấp lớp), sau đó chọn ngày nào phù hợp theo lịch trình và địa điểm thi nào gần nhất trong tiểu bang bạn sống. Khi thi xong, nếu điểm tốt, bạn sẽ tiếp tục thi vào các kỳ cao hơn.

thi học sinh giỏi, Olympic, học sinh Mỹ, đổi mới giáo dục
Một buổi thi Olympic Toán quốc tế. Ảnh: Vnmath.com
Không có “lò”, tự luyện thi

Vậy ai luyện thi cho bạn? Câu trả lời là chính bạn. Khi đăng ký kỳ thi AMC đầu tiên, bạn sẽ nhận được khá nhiều giá trị cộng thêm từ khoản lệ phí thi đã nộp. Theo đó bạn và thày giáo dạy Toán của bạn ở trường sẽ nhận được các Tạp chí Toán học, bản tin điện tử về Toán, giảm giá các loại sách, video về Toán của HHTH Mỹ bán ở hiệu sách, tham gia các khóa học trực tuyến, giảm giá cho vé tham dự các cuộc họp và hội thảo về Toán hàng năm… Đây là những tài liệu và hoạt động đa dạng của HHTH Mỹ giúp bạn học Toán và chia sẻ những vấn đề băn khoăn với cộng đồng Toán học toàn nước Mỹ. Còn lại thì bạn tha hồ tự “luyện chưởng”.

Để giúp thêm học sinh, HHTH Mỹ cho ra những lời khuyên. Theo đó, cách tốt nhất để học giỏi Toán và thi lọt các vòng là liên tục làm Toán, thực hành không ngừng nghỉ. Với các bài viết trong phần giải Toán thì phải làm sao trình bày cho rõ ràng, khúc chiết. Nên tìm nhiều cách tốt nhất để giải một bài Toán, vì chẳng có bài Toán nào chỉ có một cách duy nhất. Muốn học giỏi Toán thì nên học từ bạn bè, cũng như liên tục học hỏi từ những bậc thầy bằng cách đọc các sách Toán họ viết hoặc liên lạc bằng mọi cách nếu có thể.

Quan điểm GD Mỹ cho rằng, một học sinh giỏi Toán thì nên học hỏi từ quá khứ, nên liên hệ những vấn đề mới từ những vấn đề cũ để học hỏi thêm về sự tương đồng hay sự khác biệt. Và ngay cả khi kỳ thi đã kết thúc, mỗi học sinh cần tiếp tục suy nghĩ về những bài toán mà cuộc thi đặt ra và thảo luận với người khác. Cuối cùng, họ khuyên học sinh nên kiên nhẫn học Toán.

Như vậy, khác hẳn với các học sinh giỏi ở Việt Nam, sau khi đi qua kỳ thi tuyển chọn đầu tiên bắt đầu lọt dần vào các đội tuyển và được luyện như luyện gà chọi, học sinh Mỹ phải tự học là chính. Và trong quá trình này, các học sinh Việt Nam có thể được trường “đặc cách” cho nghỉ bớt môn phụ, thậm chí bỏ học các môn khác vài tháng, về học bù sau mà chỉ tập trung vào học môn mình sẽ tham gia thi học sinh giỏi. Trong khi đó, học sinh Mỹ vì tự học môn nào là do ưa thích và đam mê, tự đi thi vì nỗ lực muốn chứng minh bản thân có khả năng vượt qua thử thách, nên ở trường vẫn học tất cả các môn học không có gì thay đổi.

Hơn nữa, các kỳ thi học sinh giỏi tại Mỹ chỉ là một phần thước đo giá trị của học sinh. Tại trường phổ thông Mỹ, một học sinh được coi là xuất sắc phải “văn võ song toàn”. Tức là đương nhiên có thành tích học tập tốt, nhưng ngoài ra em này còn là người có năng khiếu và thành tích trong thể thao hay nghệ thuật. Chưa hết, em này còn có khả năng tham gia các hoạt động cộng đồng, có thành tích lãnh đạo, các kỹ năng mềm trong đời sống đều xuất sắc.

Vì vậy, các học sinh giỏi Toán cũng vẫn có thể vẽ đẹp, chơi thể thao cừ và hoạt động từ thiện tích cực. Hình ảnh của một học sinh giỏi như vậy tràn đầy sức sống và rất gần gũi với những gì xã hội cần. Nó khác hẳn hình ảnh những học sinh giỏi theo kiểu “gà chọi” của ta, chỉ biết một môn mà mình giỏi, mắt cận thị vì học nhiều quá và thân thể không cường tráng cho lắm vì không có thời gian tập thể thao. Đó là chưa kể nhiều em chuyên học Toán, Lý, Hóa giỏi thì giao tiếp và hoạt động xã hội rất yếu.

Ba ngày và vài năm

Dù sao tôi vẫn còn một điểm tò mò. Cho dù là học sinh Mỹ tự học thế nào, vậy vẫn còn kỳ thi Olympic quốc tế, không lẽ lại không chuẩn bị cho các em. Vì kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế lần thứ 46 đến gần, tôi vào website của American Chemical Society, Hiệp hội Hóa học Mỹ xem thử.

Thông tin ở đây cho hay, các học sinh trung học Mỹ, sau khi trải qua các kỳ thi học sinh giỏi Hóa (cách thức tương tự thi Toán) sẽ chọn ra 20 thành viên xuất sắc nhất. Các em này sẽ được mời đi cắm trại 3 ngày trước kỳ thi. Sau 3 ngày, từ 20 em sẽ chọn ra 4 em xuất sắc nhất để tham dự kỳ thi cuối cùng… Chỉ vẹn vẹn ba ngày so với hàng nhiều năm luyện trong lò của học sinh ta.

Như vậy, từ cách chuẩn bị cho đến cách thi và lựa chọn học sinh giỏi của Mỹ thật khác xa cách làm ở VN hiện nay, và từ đó cho ra những “sản phẩm” học sinh giỏi cũng rất khác nhau. Một bên là những học sinh giỏi do thực sự đam mê, yêu thích và có khả năng tự học và kiên trì, chịu cạnh tranh cao độ, dưỡng sức để có thể trở thành một nhân tài có thể cống hiến lâu dài cho xã hội. Một bên là tạo ra những học sinh giỏi ban đầu từ đam mê, yêu thích, sau biến thành gà chọi trong lò luyện, chỉ biết một mục tiêu duy nhất đi thi đoạt giải và có thể có nhiều hệ lụy đi kèm.

Học sinh giỏi Việt Nam rất thông minh, kiên nhẫn, đam mê. Nhưng muốn những nhân tài này hữu dụng hơn cho xã hội mai này, có lẽ chúng ta cần sớm thay đổi cách dạy, cách học, các thi, cách khuyến khích tài năng cho phù hợp.

An Dung

Người Việt ‘yếu’ ngoại ngữ và tư duy ‘tạm đủ’

Người Việt ‘yếu’ ngoại ngữ và tư duy ‘tạm đủ’

Tư duy ‘tạm đủ’ thể hiện ở nhiều lĩnh vực, mà học và sử dụng ngoại ngữ là một ví dụ.

Có thể không cần bàn thêm về tầm quan trọng của ngoại ngữ[1] trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Khi mà nguồn tài nguyên nước ngoài sẵn sàng gõ cửa, ngoại ngữ là chìa khóa để chúng ta có thể tiếp thu được những tri thức và đón nhận những cơ hội mới.

Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể khẳng định rằng, xét về mặt bằng chung, người Việt Nam không hề yếu ngoại ngữ, nhất là đối với thế hệ trẻ. Phần lớn các bạn có trình độ tiếng Anh đủ để giao tiếp với người nước ngoài. Chuyện ra đường gặp các bạn trẻ nhiệt tình làm “hướng dẫn viên” cho du khách nước ngoài không còn là hiếm. Rất nhiều bảng hiệu trên đường, thực đơn trong nhà hàng hay các sản phẩm trong siêu thị nước ta… có nội dung được thể hiện song ngữ tiếng Việt/ Anh, thậm chí chỉ có… tiếng Anh!

Điều này rất khác với các nước khác. Khi đến Hàn Quốc, người nước ngoài sẽ gặp khó khăn hơn nhiều khi giao tiếp, vì ở đây tiếng Anh không phổ biến đến thế. Đi taxi, muốn miêu tả địa điểm cũng không dễ, còn vào siêu thị thì cố gắng “nhìn nhãn đoán công dụng”. Đến Pháp, Ý tình trạng cũng tương tự đối với các bảng hiệu hoặc sản phẩm bày bán, dù người dân ở đây có thể sử dụng tiếng Anh thông thạo.

Như vậy, rõ ràng xét về mặt bằng chung, chúng ta thậm chí còn sử dụng ngoại ngữ nhiều hơn nhiều nước khác. Nhưng vì sao chúng ta vẫn bị xem là yếu ngoại ngữ?

ngoại ngữ, tiếng Anh, hội nhập, người Việt, tư duy cào bằng, trung tâm ngoại ngữ, taxi, tạp chí quốc tế, hướng dẫn viên du lịch
Trong thời đại toàn cầu hóa, ngoại ngữ rất quan trọng. Ảnh minh họa
…chỉ là chưa đủ “giỏi đến cùng”

Bởi, theo tôi, chúng ta chỉ “biết” ngoại ngữ, chứ chưa thực sự sử dụng được nó như một ngôn ngữ để phục vụ cho công việc. Một ngôn ngữ khi chưa được sử dụng để đạt mục đích cuối cùng của người truyền đạt thì chưa được xem là thông thạo.

Thông thạo một ngôn ngữ nhất định nghĩa là có thể sử dụng nó truyền tải nội dung chúng ta muốn, phục vụ tốt cho công việc của chúng ta, tùy theo từng cấp độ yêu cầu của công việc đó. Chẳng hạn, đối với người lái taxi, đó là biết được chính xác khách hàng muốn đến địa điểm nào, những chỉ dẫn kèm theo và giao tiếp được với họ. Đối với hướng dẫn viên du lịch là khả năng giới thiệu cho du khách về những địa điểm và khả năng điều hành chuyến đi.

Yêu cầu thông thạo ngoại ngữ đối với tầng lớp lao động “cao cấp” còn cao hơn thế rất nhiều. Đối với bác sĩ, yêu cầu đó là có thể nghiên cứu các tài liệu bằng ngoại ngữ, tư vấn cho bệnh nhân nước ngoài, và cao hơn, có bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế. Đối với luật sư là khả năng nghiên cứu pháp luật nước ngoài, tư vấn, tham gia tranh tụng bằng ngoại ngữ. Đối với các giảng viên là có thể viết những bài nghiên cứu, giảng dạy bằng ngoại ngữ, v.v…

Tiếc rằng, điều này chúng ta lại rất thiếu. Nói cách khác, chúng ta đang thiếu hụt một nguồn nhân sự có thể sử dụng “tiếng Anh cao cấp”, những người đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu một “Việt Nam mới” ra thế giới!

Theo số liệu thống kê [2], năm 2012, Việt Nam có 1.731 bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí quốc tế, so với 5.804 của Thái Lan, 7.828 của Malaysia, 10.125 của Singapore. Ngoại ngữ chưa đủ “giỏi” phải chăng cũng là một nguyên nhân cho con số “khiêm tốn” này?

Ngoại ngữ đương nhiên không phải là thước đo trí tuệ của một cá nhân hay một quốc gia. Nhưng nếu không có ngoại ngữ, hay chính là “ngôn ngữ” trong cộng đồng quốc tế, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong ngoại giao hay cao hơn nữa thể hiện tinh hoa của dân tộc. Điều này lý giải phần nào tại sao mặc dù người Việt về mặt bằng chung có thể “khá” ngoại ngữ, nhưng lại vẫn non yếu trong việc đưa các sản phẩm trí tuệ ra thế giới, cũng như thể hiện vai trò trong cộng đồng thế giới.

Tư duy “tạm đủ”

Như vậy gốc của vấn đề là gì khi người Việt ở một góc độ nhất định vẫn bị xem là “yếu ngoại ngữ”? Không thể biện hộ rằng VN nằm trong khu vực không sử dụng tiếng Anh để biện hộ. Vì nhìn xung quanh Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… tuy hệ thống chữ cái toàn toàn khác hệ Latin nhưng họ có rất nhiều đại diện làm việc khắp nơi trên thế giới. Và cũng không thể viện dẫn do “nước đang phát triển” để bào chữa, vì thực ra, thông thạo một ngoại ngữ không phải là một vấn đề quá khó đến mức phải giàu có mới làm được, nhất là đối với lao động trình độ cao.

Theo cá nhân người viết, điều này một phần xuất phát từ “tư duy tạm đủ” đã ăn sâu vào tính cách của người Việt Nam. Tư duy ‘tạm đủ’ của người Việt không chỉ thể hiện trong vấn đề học ngoại ngữ mà còn trong nhiều lĩnh vực khác. Đó là tư duy tiểu nông, chỉ cần mưa thuận gió hòa, đủ ăn đủ mặc là… đủ. Biết tiếng Anh sơ sơ đủ dùng là đủ, có tấm bằng đủ xin việc là đủ, chỉ cần biết tiếng Anh thôi là đủ, không cần ngôn ngữ khác, học Đại học thôi là đủ, đi làm lương đủ ăn là đủ…

Đương nhiên, mỗi người có một cách nhìn nhận khác nhau về nhu cầu và khả năng của bản thân, tuy nhiên khi cái tư duy “tạm đủ” là đặc tính phổ biến, nó sẽ trở thành tác nhân kéo lùi sự phát triển của dân tộc đó.

Khi VN mở cánh cửa ra thế giới, người Việt được đi ra nước ngoài nhiều hơn, có thể chúng ta sẽ nhận ra như vậy chưa “đủ”. Một trình độ tiếng Anh trung bình chưa đủ giúp chúng ta viết được một bài nghiên cứu có giá trị để được đăng tải trên các tạp chí quốc tế, chưa đủ giúp chúng ta có thể tranh luận một cách nghiêm túc cùng các đồng nghiệp nước ngoài.

Một vài bằng cấp chưa đủ để người tuyển dụng “hoảng sợ”. Một kiến thức hời hợt về thế giới từ những cuộc du lịch ngắn ngày, chụp ảnh và check-in hơn là tìm hiểu sâu về văn hóa – lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật chưa đủ để bạn ba hoa về những vùng đất đã đi qua trước bạn bè thế giới, khi cơ hội trải nghiệm của họ nhiều hơn nhiều lần.

Nếu còn giữ tư duy học tập và làm việc “vừa đủ”, học vì bằng cấp, hình thức, còn quan điểm làm việc để khoe mẽ hơn là vì khát vọng thực sự của bản thân, thì việc người Việt tụt hậu với thế giới sẽ còn là một vấn đề lâu dài, không chỉ trong chuyện học ngoại ngữ.

Vũ Kim Hạnh Dung (Đại học Kinh tế – Luật Tp. Hồ Chí Minh)

Tối đa năng suất nhờ nâng cao khả năng tập trung

Tối đa năng suất nhờ nâng cao khả năng tập trung

Tập trung là gì?

Hãy thử phân tích ví dụ sau. Bạn đã bao giờ thấy một bà mẹ phải vất vả lắm lôi đứa con gái khỏi món đồ chơi nào đó hoặc một hành động nào đó chưa? Cảnh tượng khá phổ biến ấy đã cho ta thấy: Trẻ con có khả năng tập trung rất cao và không dễ gì khiến chúng thay đổi sự tập trung đó.

Khả năng tập trung hoàn toàn khi làm việc có vẻ là một khả năng thiên phú và tự nhiên với trẻ nhỏ nhưng lại là thách thức lớn nhất cho tất cả chúng ta. Chúng ta không thể nào tập trung được để rồi gặp thất bại với chính công việc đó.

Tuy nhiên một vài người vẫn có khả năng tập trung hoàn hảo vào công việc và thể hiện kết quả rất tuyệt vời. Những nhà tâm lý học hiện đại gọi tình trạng hoàn toàn tập trung vào công việc là “đắm mình”.

Mihaly Csikszentmihalyi là người đầu tiên mô tả ý tưởng này và cho rằng tình trạng có thể đạt được tập trung hoàn toàn có thể áp dụng cho mọi hoạt động. Theo Csikszentmihalyi “đắm mình” là “hoàn toàn tập trung vào một hoạt động. Không còn bản ngã. Không còn thời gian. Mọi động tác, cử chỉ và suy nghĩ đều hướng theo và hòa nhịp, giống như đang chơi một bản nhạc. Toàn thân bạn chìm ngập và kỹ năng thăng hoa tới mức cao nhất: Vậy làm sao có thể bước vào trạng thái tuyệt vời đó?

Tạo ra môi trường thuận lợi

Trạng thái tập trung sẽ dễ dàng đạt được khi:

Bạn chịu đủ áp lực để tiếp tục, nhưng không nhiều đến mức buông xuôi

Tin rằng mình đủ kỹ năng để làm tốt

Kiểm soát được sự xao nhãng

Chú tâm vào công việc chứ không phí thời gian phân tích và đánh giá khả năng của mình

Thoải mái nhưng tỉnh táo

Suy nghĩ tích cựcvà tránh xa các suy nghĩ tiêu cực

Trong môi trường công sở bận rộn như ngày nay, một số quy tắc xem chừng rất khó để thực hiện. Điện thoại reo liên tục, email tới tấp và đồng nghiệp hỏi han cứ quấy rầy bạn không ngừng. Trong lúc đó, đầu bạn mải mê suy nghĩ chuyện cá nhân hoặc băn khoăn về các vấn đề phát sinh trong công việc và chẳng tập trung được vào công việc.

Do đó nếu muốn thật sự chú tâm vào công việc, bạn cần loại bỏ bớt các tác nhân gây xao nhãng bằng cách thực hành một vài quy tắc sau:

Thoải mái và loại bỏ các tác nhân gây xao nhãng trong môi trường: Sắp xếp lại môi trường làm việc để tránh xao nhãng càng nhiều càng tốt. Xoay hướng bàn làm việc để không bị mọi người quay rầy. Sử dụng vách ngăn để giảm tiếng ồn. Điều chỉnh nội thất sao cho thoải mái nhất. Dọn dẹp nếu thấy khó chịu vì bụi bặm. Nhớ căn chỉnh nhiệt độ phù hợp và ánh sáng tốt.

Ngăn ngừa quấy rầy từ xa:Dựng bảng “Xin đừng làm phiền”, tắt điện thoại, tắt hộp thư, không lướt web và làm mọi thứ để ngăn chặn các tác nhân thường xuyên khiến bạn xao lãng. Bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi thấy mình hoàn thành xong công việc trong chỉ một giờ nếu không bị xao lãng so với bỏ ra vài giờ mới hoàn tất nếu bị các tác nhân quấy rối. Để tìm hiểu thêm, đọc mục Quản lý sự quấy rầy.

Quản lý căng thẳng:Nhận diện nguồn gốc căng thẳng với Nhật kí căng thẳng và tích cực giảm thiểu hoặc tránh xa các tác nhân gây rối nhiều nhất, ví dụ như có quá nhiều việc phải làm. Đọc thêm bài Quản lý thời gian để biết cách xử lý. Nếu bạn chịu quá nhiều áp lực, sử dụng phương pháp hình tượng hóa việc nghỉ ngơi để khiến mình dịu xuống.

Lập Danh sách việc cần làm và Chương trình hành động. Xử lý tác nhân gây phiền phức bằng cách viết xuống Danh sách việc cần làm hoặc Chương trình hành động. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy điều này có ích cho trí óc mình ra sao. Tương tự, bạn cũng nên viết những lo lắng của mình xuống và thiết lập thời gian xử lý chúng. Đừng làm quá nhiều việc cùng lúc, chỉ nên tập trung xử lý từng việc một thôi.

Suy nghĩ tích cực. Rất khó tập trung nếu bạn cứ quẩn quanh với những ý nghĩ tiêu cực trong đầu. Ngoài ra, suy nghĩ tiêu cực còn gây áp lực lên công việc và mối quan hệ và thường khiến mọi việc trở nên xấu đi. Do đó bước đầu tiên để tập trung vào công việc là chấm dứt ngay việc suy nghĩ tiêu cực và học cách suy nghĩ tích cực.

Những vận động viên thành công thường sử dụng phương pháp thư giãn và suy nghĩ tích cực khi đối mặt với cạnh tranh. Theo đó, họ xử lý cảm giác lo lắng bằng kỹ thuật thư giãn và nhắc bản thân ghi nhớ về những kỹ năng vốn dĩ giúp họ đạt được thành công. Và khi thi đấu, chạy, nhảy hoặc ném, họ hoàn toàn tập trung vào cuộc thi mặc kệ môi trường và tác nhân gây xao nhãng xung quanh.

Đắm mình vào công việc

Sau khi chuẩn bị xong, bạn có thể bắt đầu thực hiện kỹ năng tập trung của mình. Cố gắng tập trung vào một công việc trong một thời điểm và tránh xa những việc không liên quan khác.

Và đó là lúc bạn thật sự nhập tâm vào công việc rồi. Bạn sẽ tích cực tham gia vào bất kì hoạt động nào mình quan tâm, từ đó không chỉ nâng cao hiệu suất công việc mà còn dễ dàng thành công hơn. Chú tâm dẫn tới hiệu quả, chú tâm dẫn tới vui vẻ, và chú tâm dẫn tới thành công.

Điểm cốt lõi:

Khi đạt được trạng thái chú tâm đắm mình, bạn có thể đạt được nhiều hơn vì mọi suy nghĩ và năng lượng đều được tập trung để thực hiện nhiệm vụ. Để đạt được trạng thái đó, bạn cần phải loại bỏ mọi tác nhân gây nhiễu khỏi môi trường quanh mình.

Hơn nữa, bạn cần phải giải phóng bản thân khỏi lo lắng, bất an, tiêu cực và tất cả những “trạng thái tâm lý” cứ đi ra đi vào tâm trí. Đây là công việc khó khăn nhưng vẫn có thể đạt được nếu bạn tập thành thói quan đúng đắn ngay từ bây giờ.

Áp dụng vào cuộc sống:

Tìm cách cải thiện môi trường làm việc để chú tâm hiệu quả hơn và thường xuyên hơn. Nếu bạn đang làm việc trong một văn phòng mở, hãy sử dụng khu vực họp và nghỉ ngơi mỗi khi cần tập trung. Bạn cũng có thể sử dụng tai nghe để hạn chế tiếng ồn.

Tự quy định không được lướt web và đọc thư cho đến khi nào hoàn thành xong công việc.

Làm theo lời khuyên trên, thiết lập một hệ thống quản lý thời gian hiệu quả và bỏ qua các suy nghĩ căng thẳng cứ lởn vởn mãi trong đầu. Bạn sẽ thấy mình tập trung hơn một cách đáng ngạc nhiên nếu viết mọi thứ ra giấy.

Nếu đang bế tắc với một nhiệm vụ nào đó, đừng tự mình xao nhãng và vội vã đi pha cà phê. Thay vào đó, nhắc mình nhớ lại những kỹ năng giúp phá vỡ vấn đề, và vẫn giữ tập trung vào nhiệm vụ đó để tìm ra giải pháp.

Lý thuyết thiết lập mục tiêu của Locke

Lý thuyết thiết lập mục tiêu của Locke

Thiết lập mục tiêu là phương thức thúc đẩy mọi người và cả bạn tiến lên. Giá trị của thiết lập mục tiêu đã được công nhận rộng rãi tới mức toàn bộ hệ thống quản lý, ví dụ như quản lý bằng mục tiêu, đều tích hợp thêm các phương pháp thiết lập mục tiêu cơ bản để quản lý.

Trong thực tế, lý thuyết về thiết lập mục tiêu đã được công nhận là một trong những lý thuyết động cơ có giá trị và hữu ích nhất trong tâm lý học công nghiệp và tổ chức, quản lý nguồn nhân lực và hành vi tổ chức.

Nhiều người đã học được cách thiết lập mục tiêu SMART từ sếp, hội thảo, và báo chí. Có thể nói rằng, khi thiết lập được một mục tiêu cụ thể, có thể đo lường, có liên quan và có thời gian hoàn thành, chúng ta sẽ dễ dàng hoàn thành được mục tiêu đề ra.
Nhưng đây có phải là cách tốt nhất để thiết lập mục tiêu?

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta hãy xem xét một nghiên cứu của tiến sĩ Edwin Locke về thiết lập mục tiêu và động lực vào cuối thập niên 1960. Trong một bài báo viết năm 1960 có tiêu đề “Tiến tới một học thuyết về động viên và khuyến khích,” ông nói rằng các nhân viên sẽ đã được thúc đẩy bởi mục tiêu rõ ràng và phản hồi thích hợp. Locke cũng cho rằng làm việc có mục tiêu giúp sẽ mang tới động lực giúp nhân viên đạt được mục tiêu đó và cải thiện hiệu suất làm việc.

Thông tin này có vẻ không còn mới cho tới thời điểm này nhưng cũng cho thấy lý thuyết trên đã có tác động thay đổi hiệu suất chuyên nghiệp và cá nhân.

Trong bài này, chúng ta sẽ cũng tìm hiểu xem Locke đã nói gì về thiết lập mục tiêu, và làm cách nào áp dụng lý thuyết đó lên mục tiêu năng suất cá nhân.

Lý thuyết về thiết lập mục tiêu

Nghiên cứu của Locke cho thấy mục tiêu càng cụ thể và khó khăn thì năng lực và kết quả thực hiện thường tốt hơn nhiều so với các mục tiêu mơ hồ hoặc dễ dàng.

Động viên chung chung kiểu “Cố lên” hay “Cố hết sức đi” sẽ ít hiệu quả hơn khuyến khích người khác bằng một mục tiêu cụ thể như “Cố gắng làm đúng ít nhất 80% nhé” hoặc “Tập trung sử dụng thời gian thật tốt đi”. Tương tự, mục tiêu khó khăn thường có động lực thúc đẩy cao hơn so với mục tiêu dễ dàng bởi vì người ta phải hoàn thành nhiều điều để đạt được mục tiêu đó.

Vài năm sau bài viết của Locke, một nghiên cứu khác của Tiến sĩ
Gary Latham về tính hiệu quả trong việc thiết lập mục tiêu công việc đã hỗ trợ chứng minh lý thuyết của Locke. Từ đây, mối liên hệ chính thức giữa thiết lập mục tiêu và hiệu suất làm việc đã được hình thành.

Năm 1990, Locke và Latham xuất bản chuyên đề “Học thuyết về Thiết lập mục tiêu và Hiệu suất làm việc” trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải đặt ra mục tiêu cụ thể và khó khăn đồng thời chỉ ra thêm ba đặc tính để thiết lập mục tiêu thành công.

Năm nguyên tắc để Thiết lập mục tiêu
1. Rõ ràng
2. Thách thức
3. Cam kết
4. Phản hồi
5. Độ phức tạp của công việc.
Sau đây là những giải thích cụ thể hơn.

1. Rõ ràng

Mục tiêu rõ ràng luôn cân đo và đóng đếm được. Một mục tiêu rõ ràng đi kèm với thời gian cụ thể chắc chắn sẽ mang lại thành công cho người thực hiện vì bạn biết rõ những gì sẽ đạt được và sử dụng chính kết quả đó làm động lực cho mình. Còn khi đặt ra một mục tiêu mơ hồ hoặc chỉ là chỉ dẫn chung chung như “Hãy chủ động”, bạn sẽ nhận được ít động lực hơn.

Để cải thiện năng lực của bạn hoặc của nhóm, nên đặt ra mục tiêu rõ ràng bao gồm các tiêu chuẩn cụ thể và đo lường được ví dụ như “Giảm tỷ lệ nghỉ việc dưới 15%” hoặc “Trả lời đề nghị của nhân viên trong vòng 48 giờ”.

Khi sử dụng quy tắc SMART để thiết lập mục tiêu, bạn nên đảm bảo tính rõ ràng của mục tiêu thông qua tiêu chuẩn là Cụ thể, Có thể đo lường và Thời gian giới hạn.

2. Thách thức
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của mục tiêu là mức độ thách thức bởi vì mọi người ai cũng phấn khích trước thành công và thường đánh giá một mục tiêu dựa trên ý nghĩa của thành quả đạt được. Một khi biết rằng thành công đó sẽ đón nhận nồng nhiệt, bạn sẽ có một động lực tự nhiên để làm tốt việc đó.
Mục tiêu càng khó, phần thưởng càng cao. Nếu bạn nghĩ mình sẽ được tưởng thưởng xứng đáng khi chinh phục xong một mục tiêu khó nhằn, bạn sẽ nhiệt tình và hăng hái hơn.

Thiết lập mục tiêu SMART thích hợp sẽ giúp mục tiêu và phần thưởng được kết nối chặt chẽ hơn. Theo đó, mục tiêu thích hợp sẽ xúc tiến mục đích của tổ chức và tạo động lực cho nhân viên hăng say làm việc.

Khi thiết lập mục tiêu, hãy biến mỗi mục tiêu trở thành một thách thức bởi nếu mục tiêu quá dễ dàng, bạn và đồng nghiệp sẽ không mong đợi thu lượm được thành tựu đáng kể thì cũng sẽ không nỗ lực để làm việc đó.

Lưu ý:
Cũng nên chú ý cân bằng và phân biệt giữa một mục tiêu đầy thách thức và một mục tiêu thực tế bởi đặt ra một mục tiêu không đạt được sẽ dễ dàng khiến bạn nản chí hơn cả việc thiết lập một mục tiêu dễ dàng. Ai cũng khao khát thành công và thành tích, do đó nên đặt ra một mục tiêu thách thức nhưng phải thực tế để đảm các mục tiêu đều có thể đạt được.

3. Cam kết

Mục tiêu muốn hiệu quả phải được mọi người hiểu rõ và thông qua vì nhân viên chỉ thấy hứng thú với một mục tiêu nếu họ có tham gia tạo ra mục tiêu đó. Khái niệm về quản lý sự tham gia cũng dựa trên ý tưởng này trong đó nhấn mạnh phải yêu cầu nhân viên tham gia thiết lập mục tiêu và đưa ra quyết định.

Một phiên bản khác của SMART dùng chữ A và R với ý nghĩa là Đồng Thuận và Thực tế thay cho Khả thi và Thích hợp vì cho rằng một mục tiêu đồng lòng sẽ dễ dẫn đến cam kết.

Điều đó không có nghĩa là mục tiêu nào cũng phải được toàn thể nhân viên tham gia và đồng thuận mà chỉ có nghĩa là mục tiêu phải nhất quán và phù hợp với kỳ vọng và mối quan tâm của tổ chức. Miễn là nhân viên tin rằng mục tiêu này phù hợp với các mục tiêu của công ty và người được giao mục tiêu là đáng tin cậy, lúc đó sẽ có sự cam kết.

Điều thú vị là cam kết thực hiện mục tiêu và sự khó khăn lại có liên quan tới nhau. Mục tiêu càng khó khăn thì càng phải có nhiều cam kết. Nếu đặt ra mục tiêu dễ dàng, bạn không có nhiều động lực để thực hiện trong khi nếu được giao một mục tiêu khó khăn, bạn có thể phải cần tới một nguồn cảm hứng sâu sắc hơn để hoàn thành mục tiêu đó.
Khi thiết lập mục tiêu công việc, hãy nỗ lực để mọi người cùng đóng góp mục tiêu riêng của họ vào đó. Hãy khuyến khích nhân viên phát triển mục tiêu riêng và thông báo cho họ biết về những việc đang xảy ra trong tổ chức. Nhờ đó, nhân viên có thể biết rằng mục tiêu của họ phù hợp với tầm nhìn tổng thể và mục đích mà công ty đang tìm kiếm.

4. Phản hồi
Để thiết lập một mục tiêu hiệu quả, ngoài việc chọn đúng mục tiêu thì phải sử dụng thêm thông tin phản hồi để làm rõ kỳ vọng, điều chỉnh độ khó của mục tiêu và và nhận được sự đồng thuận. Đó cũng là thông tin quan trọng giúp đánh giá cơ hội và mục tiêu để mỗi cá nhân có thể xác định cách làm cho riêng mình.
Khi mục tiêu cần thực hiện trong thời gian dài, bạn cần phải lập báo cáo tiến độ đo lường cụ thể thành công trên từng chặng đường nhằm chia mục tiêu thành nhiều phần nhỏ hơn và gắn kết phản hồi vào từng cột mốc.

Một trong những tiêu chí của SMART là phải đo lường được, do đó yêu cầu thông tin phản hồi cũng phải rõ ràng và cụ thể.

Trong nỗ lực thiết lập mục tiêu, nên chừa thời gian để cung cấp các phản hồi chính thức vì ngoài những phản hồi không chính thức giúp động viên và công nhận, bạn cũng nên ngồi lại với nhóm để thảo luận về khả năng thực hiện mục tiêu để cải thiện hiệu quả lâu dài. Xem bài Phân công để biết thêm chi tiết.

5. Độ phức tạp của nhiệm vụ
Yếu tố cuối cùng trong lý thuyết thiết lập mục tiêu giới thiệu thêm hai yêu cầu cần thiết cho thành công. Cần đặc biệt chú ý đến những mục tiêu hoặc nhiệm vụ phức tạp để không bị quá tải trong công việc.

Những ai đang gánh vác những nhiệm vụ phức tạp thường đã có sẵn động cơ làm việc rất cao. Tuy nhiên, có thể họ sẽ ép mình quá sức nếu không tính thêm yếu tố “đo lường” vào kỳ vọng mục tiêu nhằm tính toán độ phức tạp của nhiệm vụ. Do đó cần thực hiện những bước sau:

• Cho người này thêm thời gian để đáp ứng mục tiêu hoặc cải thiện hiệu suất làm việc.

• Cho người này thêm thời gian để thực hành hay học hỏi thêm.
Toàn bộ trọng tâm của thiết lập mục tiêu là để tạo đà cho thành công do đó phải đảm bảo các điều kiện xung quanh mục tiêu không làm hỏng hoặc ngăn cản người khác hoàn thành mục tiêu của họ. Đây được gọi là yếu tố “Khả thi” của SMART.

Điểm cốt lõi:

Thiết lập mục tiêu rất cần thiết cho thành công của mỗi người.
Khi hiểu được lý thuyết thiết lập mục tiêu, bạn có thể áp dụng các nguyên tắc sẵn có để thiết lập mục tiêu cá nhân và đội nhóm một cách hiệu quả. Có thể nói, nghiên cứu của Locke và Latham đã xác nhận tính hữu ích của thiết lập mục tiêu SMART và lý thuyết này vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cách đo lường hiệu suất ngày hôm nay.
Hãy sử dụng các mục tiêu rõ ràng, đầy thách thức và cam kết đạt được mục tiêu đó. Đưa ra phản hồi về hiệu suất mục tiêu. Xem xét sự phức tạp của nhiệm vụ. Nếu bạn thực hiện theo các quy tắc đơn giản này, quy trình thiết lập mục tiêu của bạn sẽ gặt hái nhiều thành công và hiệu suất làm việc cũng sẽ được cải thiện tương ứng.

Thiết lập mục tiêu cá nhân

Thiết lập mục tiêu cá nhân

Thiết lập mục tiêu chính là một công cụ đầy quyền năng giúp bạn nghĩ về tương lai và thúc đẩy bản thân phải hiện thức hóa tầm nhìn và ước mơ của mình.

Quy trình thiết lập mục tiêu giúp bạn biết cái đích cuối cùng và con đường phải đi tới thành công. Khi biết chính xác điều mình muốn đạt được, bạn sẽ biết mình cần phải tập trung vào đâu và tránh xa những công việc hay gây xao nhãng.

Hơn nữa, thiết lập mục tiêu còn là động lực thúc đẩy giúp bạn tự tin hơn một khi đã quen với việc thiết lập và chinh phục mục tiêu.

Tập trung hơn, chinh phục nhiều hơn

Mẫu số chung của tất cả những người thành công trong mọi lĩnh vực là khả năng thiết lập mục tiêu và chinh phục mục tiêu. Ở đó, luôn có tầm nhìn xa và động lực ngắn hạn. Ở đó, bạn biết cách tập trung vận dụng kiến thức, tổ chức sắp xếp thời gian và nguồn lực để phục vụ tốt nhất cho cuộc sống.

Thông qua những mục tiêu gãy gọn và rõ rang, bạn hoàn toàn có thể đo được và tự hào vì mình đã chinh phục được điều đó.

Bắt đầu thiết lập mục tiêu cá nhân

Thông thường, mục tiêu thường được thiết lập theo nhiều cấp độ khác nhau: Trước tiên là tạo ra một bức tranh tổng thể về những điều bạn muốn làm và quyết định xem quy mô của mục tiêu lớn nhỏ như thế nào. Tiếp theo, chia nhỏ mục tiêu này thành những phân đoạn nhỏ hơn. Sau khi đã có kế hoạch cụ thể, bạn có thể bắt đầu thực hiện mục tiêu được rồi.

Đó là lý do quy trình thiết lập mục tiêu luôn bắt đầu bằng việc xem xét Mục tiêu Cuộc sống và tìm ra những việc có thể làm ngay hôm nay để biến mục tiêu đó thành hiện thực.

Mục tiêu Cuộc đời

Để thiết lập mục tiêu cá nhân, trước tiên bạn nên biết mình muốn đạt được điều gì trong cuộc sống (ví dụ ít nhất là trong 10 năm tới) vì đó sẽ là cơ sở cho mọi quyết định có liên quan tới cuộc sống của bạn.

Bạn nên thiết lập mục tiêu dựa trên những danh mục sau để có thể bao quát và cân bằng mọi mặt trong cuộc sống:
– Nghề nghiệp: Bạn muốn phát triển nghề nghiệp tới mức nào?
– Tài chính: Bạn muốn kiếm được bao nhiêu tiền trước một thời gian nhất định nào đó?
– Học vấn: Bạn có muốn nâng cao kiến thức không? Bạn cần học thêm kỹ năng hoặc kiến thức gì để đạt được mục tiêu đó?
– Gia đình: Bạn có muốn trở thành cha/mẹ không? Làm sao để trở thành ông bố bà mẹ tốt?
– Nghệ thuật: Bạn có mục tiêu nghệ thuật nào không? Mục tiêu đó là gì?
– Thái độ: Suy nghĩ nào khiến bạn đi lùi? Bạn có thất vọng với cách hành xử của mình hay không? Nếu có, hãy đề ra mục tiêu nâng cao cách cư xử hoặc tìm ra giải pháp cho vấn đề.
– Thể lực: Bạn có mục tiêu nâng cao thể chất nào không? Bạn có muốn về già mình vẫn khỏe mạnh không? Bạn sẽ làm gì để đạt được điều đó?
– Phục vụ cộng đồng: Bạn có mong ước cải thiện cuộc sống của mọi người xung quanh không? Nếu có thì làm thế nào?

Dành một chút thời gian để suy nghĩ về điều đó và chọn một hoặc nhiều mục tiêu phù hợp nhất trong mỗi danh mục kể trên. Sau đó sàng lọc lại để tìm ra những mục tiêu cần cần tập trung thực hiện.

Trong quá trình thiết lập mục tiêu, phải nhớ đó là mục tiêu do bạn muốn thực hiện, chứ không phải mục tiêu do gia đình, bạn bè, cha mẹ hoặc đồng nghiệp muốn bạn thực hiện (nếu có người yêu, bạn cũng nên tham khảo ý kiến của họ nhưng phần quyết định cuối cùng vẫn là của bạn).

Bắt đầu thực hiện mục tiêu cuộc sống

Đối với mục tiêu cuộc sống, bạn nên đặt ra thời hạn ít nhất 5 năm cho mỗi mục tiêu nhỏ hơn cần hoàn thành để đạt được mục tiêu cuối cùng. Sau đó, tiếp tục đặt ra mục tiêu trong 1 năm, 6 tháng và 1 tháng để từng bước từng bước tiến tới mục tiêu cuối cùng, cái sau dựa trên cái trước.

Sau đó, hãy tạo “danh sách việc cần làm” trong mỗi ngày để biến mục tiêu thành hiện thực. Trong đó, một trong những bước đầu tiên là đọc sách và thu thập thông tin để cải thiện chất lượng và tính thực tế của mục tiêu.

Cuối cùng hãy coi lại kế hoạch một lần nữa để đảm bảo kế hoạch này thật sự phù hợp với bạn.

Theo sát tiến trình

Một khi đã quyết định kế hoạch xong, hãy tiếp tục tiến hành và cập nhật danh sách việc cần làm mỗi ngày. Định kì kiểm tra lại kế hoạch dài hạn và kiểm soát để kế hoạch phản ánh được ưu tiên và kinh nghiệm của bạn (gợi ý: nên lập kế hoạch định kì và kiểm tra định kì trên nhật ký máy tính).

Gợi ý thiết lập mục tiêu

Sau đây là một vài định hướng giúp bạn thiết lập mục tiêu hiệu quả:
– Trình bày mục tiêu theo hướng tích cực: Hãy dùng giọng văn tích cực để miêu tả mục tiêu của bạn “Phải thực hiện kỹ thuật này thật tốt” thay vì nói “Đừng mắc phải sai lầm ngớ ngẩn nào”
– Thật chính xác: Phải đặt mục tiêu chính xác gồm có ngày tháng và mức độ thành công mong muốn để có thể biết chính xác thời điểm chinh phục mục tiêu.
– Đặt ưu tiên: Nếu có nhiều hơn 1 mục tiêu thì phải nhớ đặt ưu tiên cho từng mục tiêu đó. Cách làm này giúp bạn không bị quá tải và tập trung toàn bộ chú ý vào những mục tiêu quan trọng.
– Viết mục tiêu ra: Viết mục tiêu ra văn bản sẽ giúp bạn định hình rõ hơn và tạo động lực tốt hơn.
– Chia mục tiêu lớn thành các mục tiêu nhỏ: Từ một mục tiêu lớn, bạn nên chia thành các mục tiêu nhỏ hơn và dễ thực hiện hơn. Một mục tiêu lớn sẽ khó hình dung và quản lý quy trình trong khi một mục tiêu nhỏ sẽ cho bạn nhiều cơ hội chinh phục hơn.
– Đặt mục tiêu về năng lực, không phải mục tiêu về kết quả: Nên đặt mục tiêu trong khả năng có thể kiểm soát càng nhiều càng tốt vì một mục tiêu nằm ngoài tầm kiểm soát sẽ rất dễ gặp thất bại: ví dụ môi trường kinh doanh không tốt hoặc các chính sách gây bất lợi của chính phủ. Trong thể thao, rủi ro đó có thể là ban giám khảo, thời tiết xấu, bị thương hoặc xui xẻo. Nếu bạn đặt mục tiêu bằng năng lực cá nhân, bạn có thể điều khiển thành công của mục tiêu
– Thiết lập mục tiêu thực tế: Bạn cần phải đặt mục tiêu thực tế với mình mà không cần quan tâm tới việc xã hội, cha mẹ, bạn bè đặt ra mục tiêu lý tưởng và cao xa cỡ nào cho mình. Ngoài ra, cũng không nên đặt ra mục tiêu quá cao mà không đánh giá chính xác các trở ngại cũng như hiểu được cần nâng cấp những kỹ năng nào để đạt được mục tiêu đó.

Mục tiêu SMARTS

Một mục tiêu hiệu quả thường tuân theo quy tắc SMART trong đó các chữ cái đầu lần lượt đại diện cho:
– Cụ thể
– Đo lường được
– Khả thi
– Tương thích
– Có hạn chót

Ví dụ, thay vì phát biểu mục tiêu là “chèo thuyền vòng quanh thế giới”, bạn nên nói là “Tôi sẽ hoàn thành chuyến đi vòng quanh thế giới trước 31/12/2014”. Hiển nhiên, bạn cần phải chuẩn bị rất nhiều mới đạt được mục tiêu này.

Chinh phục mục tiêu

Hãy ăn mừng thành công khi bạn đạt tới đó. Hãy suy nghĩ về hệ quả của thành công va quan sát tiến trình đi tới thành công. Nếu mục tiêu đã đạt được, bạn nên tự thưởng công cho mình. Tất cả điều đó sẽ giúp bạn ngày càng tự tin hơn.
Song song với trải nghiệm thành công, cần xem xét phần còn lại của kế hoạch thực hiện mục tiêu:
– Nếu mục tiêu lần này quá dễ, mục tiêu lần sau nên khó hơn
– Nếu mục tiêu lần này mất quá nhiều thời gian để hoàn thành, mục tiêu sau nên thư thả thời gian hơn
– Nếu bạn học được điều gì mới dẫn tới phải thay đổi các mục tiêu khác, hãy cứ tự nhiên
– Nếu bạn thấy mình vẫn còn mắc lỗi dù đã đạt được mục tiêu, xem lại thử có nên đặt mục tiêu sửa sai không.
Không hoàn thành mục tiêu cũng chẳng phải là cái gì đó ghê gớm lắm, miễn là bạn rút ra cho mình bài học và đưa bài học đó vào chương trình thiết lục mục tiêu của mình.
Nên nhớ rằng cùng với thời gian, mục tiêu cũng sẽ thay đổi. Do đó bạn nên thường xuyên thay đổi mục tiêu sao cho phù hợp hơn với kiến thức và kinh nghiệm của mình. Trong trường hợp mục tiêu không còn hấp dãn nữa, nên cân nhắc loại bỏ chúng.
Điểm cốt lõi
Thiết lập mục tiêu là phương pháp rất quan trọng để:
– Quyết định đâu là điều quan trọng nhất cần chinh phục
– Tách bạch giữa những vấn đề quan trọng và những vấn đề không liên quan hoặc gây xao nhãng
– Thúc đẩy bạn tiến lên
– Xây dựng tự tin dựa trên thành công đã đạt được
Nếu bạn chưa thiết lập mục tiêu thì hãy tiến hành ngay đi. Ngay khi bạn thực hiện điều đó, bạn sẽ thấy sự nghiệp của mình có biến chuyển bất ngờ và sẽ tự hỏi sao mình lại không làm điều đó sớm hơn!

Danh sách việc cần làm

Danh sách việc cần làm

Nếu một ngày nào đó bạn cảm thấy hoang mang trước cả núi việc cần làm, đuối hơi chạy cho kịp tiến độ dự án hoặc đôi khi quên mất vài việc quan trọng khiến người khác phải nhắc nhở…đó là hệ quả của việc không sắp xếp công việc một cách hợp lý. Hay nói cách khác, đó là lúc bạn cần tới một bản “danh sách việc cần làm”.

“Danh sách việc cần làm” là một tập hợp những công việc đã được sắp xếp thứ tự ưu tiên cần được hoàn thành, trong đó việc gì quan trọng nhất sẽ được xếp lên đầu tiên.

Việc này nghe ra thật đơn giản nhưng lại là nhân tố giúp tạo ra đột phá trong năng suất làm việc và kỹ năng quản lý thời gian. Từ đó giúp bạn vượt lên dẫn đầu trong công việc.

Điểm hay của “Danh sách việc cần làm” là bạn có thể lưu lại tất cả việc cần làm trong cùng một nơi, tránh bỏ quên và sai sót. Hơn nữa, khi xếp thứ tự ưu tiên cho từng công việc, bạn có thể biết được việc gì nên làm ngay, việc gì có thể để lại. Công cụ này tỏ ra đặc biệt hữu dụng khi bạn có quá nhiều việc phải là mà không biết bắt đầu từ đâu. Thiếu nó, có thể bạn sẽ thấy rối như gà mắc tóc, mất tập trung và mất uy tín với mọi người xung quanh. Do đó, hãy làm việc khoa học hơn và uy tín hơn bằng “danh sách việc cần làm” này nhé!

Thử lên một “Danh sách việc cần làm”

Ghi lại mọi việc cần làm. Nếu công việc nào có khối lượng quá lớn, hãy chia nhỏ ra thành những đầu việc nhỏ hơn. Cứ thế, tiếp tục chia nhỏ cho đến khi bạn đã liệt kê được hết mọi việc, trong đó mỗi đầu việc chỉ cần tối đa từ 1-2 giờ để hoàn thành. Danh sách này có thể rất dài nhưng không sao, chúng ta luôn có cách để sắp xếp lại mọi việc.

Tiếp theo, hãy đánh dấu A cho việc nào quan trọng nhất hoặc gấp nhất cần giải quyết, cứ thế theo thứ tự cho tới F là những việc không quan trọng, hoặc có thể để sau. Nếu trong “danh sách việc cần làm” có quá nhiều việc cần được ưu tiên như nhau, lọc lại bản danh sách một lần nữa và gạch bỏ đi việc nào ít quan trọng hơn. Sau khi lọc xong, viết lại danh sách này theo thứ tự ưu tiên mới.
Dựa trên “danh sách việc cần làm này”, bạn phải lên một kế hoạch chính xác để giải quyết từng vấn đề theo một trong hai hướng là quan trọng hay cần thiết. Nhờ đó, những công việc quan trọng đã tách biệt hẳn khỏi những việc vô bổ tốn thời gian rồi.

Gợi ý:
Một khi đã quen tay, bạn nên bắt đầu phân biệt giữa công việc mang tính “quan trọng” và “cấp thiết”. Tìm hiểu thêm ở bài Ma trận Cấp thiết/Quan trọng.

Sử dụng “Danh sách việc cần làm”

Mỗi người sẽ có cách sử dụng “danh sách việc cần làm” khác nhau tùy theo vị trí và nghề nghiệp của mình. Nếu đang là nhân viên bán hàng, bạn nên nên giữ cho “Danh sách việc cần làm” của mình thật ngắn gọn và dễ dàng hoàn thành ngay trong ngày. Còn nếu bạn đang nắm giữ vai trò tổ chức với tính chất công việc có quan tới nhiều quá người hoặc khối lượng công việc quá đồ sộ, bạn nên ghi lại mọi công việc trong cùng một nơi và từ từ “gạch bỏ” bớt.

Đôi khi, một vài việc không quan trọng sẽ bị dời đi dời lại từ một “danh sách việc cần làm” này tới “danh sách việc cần làm” khác trong vòng tới…vài tháng. Nhưng đừng lo. Chỉ trừ khi đây là công việc có quy định thời hạn thì mới nên dời lên vị trí cao hơn trong bản danh sách. Nếu không, cứ tiếp tục để đó.

Hãy thử lập và dùng “danh sách việc cần làm” ngay hôm nay nếu bạn muốn làm việc thật hiệu quả và năng suất.

Điểm cốt lõi:

Khi sử dụng “Danh sách việc cần làm”, lưu ý những điều sau:

– Viết ra hết mọi việc cần làm

– Việc nào quan trọng thì xử lý trước, đừng lãng phí thời gian vào những công việc bình thường

– Đừng quá hoang mang nếu thấy có quá nhiều đầu việc

Sắp xếp thứ tự ưu tiên cho từng đầu việc từ A (rất quan trọng) tới F (không quan trọng).

Sau đó, hãy bắt đầu xử lý công việc nào đang nằm trên cùng. Bởi đó là những việc quan trọng nhất và cần thiết nhất cần tới bạn.