Thi học sinh giỏi ở Mỹ và luyện ‘gà chọi’ ở… VN

Thi học sinh giỏi ở Mỹ và luyện ‘gà chọi’ ở… VN

Từ cách chuẩn bị cho đến cách thi và lựa chọn học sinh giỏi của Mỹ thật khác xa cách làm ở VN hiện nay.

Con trai tôi du học ở Mỹ theo học bổng. Sau một năm học lớp 10 tại một trường trung học danh tiếng có 107 năm truyền thống của tiểu bang Georgia, cháu may mắn luôn giữ vị trí số 1 và được thày cô khen ngợi. Khi còn ở Việt Nam, cháu cũng là học sinh giỏi Anh Văn, học sinh giỏi Tin học, từng ở trong đội tuyển của quận, của TPHCM. Vì vậy tôi cũng muốn tìm hiểu thi học sinh giỏi ở Mỹ sẽ như thế nào.

Ai thích thì… tự đăng ký thi

Đầu tiên tôi xem xét ở trường. Hóa ra các trường phổ thông ở Mỹ không tổ chức thi học sinh giỏi theo kiểu đồng loạt và đại trà như ở Việt Nam, nghĩa là thi đậu vào đội tuyển của trường, sau đó thi cấp quận, huyện, rồi chọn ra những em đứng đầu vào đội tuyển thi thành phố. Và cứ thế lên đến cấp quốc gia và sau chót là quốc tế. Tương tự, các trường phổ thông ở Mỹ cũng không thấy có các đội tuyển học sinh giỏi để “luyện gà chọi”.

Tôi tiếp tục tìm hiểu trên mạng Internet. Hóa ra ở Mỹ, có rất nhiều cuộc thi Toán dành cho học sinh giỏi cấp trung học phổ thông hàng năm được tổ chức. Có khoảng 24 cuộc thi tầm cỡ quốc gia hay khu vực lớn tổ chức hàng năm. Ngoài ra, còn các cuộc thi của từng tiểu bang và của những khu vực nhỏ hơn. Sơ sơ cũng cả trăm cuộc thi mỗi năm.

Nhưng thử xem cuộc thi lớn nhất là kỳ thi Toán học Mỹ (American Mathematic Competition – AMC) do Hiệp hội Toán học (HHTH) Mỹ tổ chức. Theo HHTH Mỹ, cuộc thi này đã có từ 60 năm nay. Hàng năm có 350.000 học sinh từ 6.000 trường trung học Mỹ tham gia kỳ thi này để giải các bài toán khó và trui rèn đam mê môn Toán. Cuộc thi này tổ chức cho các học sinh theo từng cấp lớp và sẽ có nhiều cấp độ khác nhau. Cấp độ cuối cùng, tất nhiên là sẽ vào Olympic Toán Quốc tế với 6 học sinh xuất sắc nhất.

Vậy làm thế nào để tham gia cấp độ đầu tiên của Kỳ thi này? Câu trả lời từ HHTH Mỹ rất đơn giản là ai cũng có thể tham gia. Bạn chỉ cần đăng ký một khoản lệ phí trực tuyến từ 50 – 60 USD (tùy cấp lớp), sau đó chọn ngày nào phù hợp theo lịch trình và địa điểm thi nào gần nhất trong tiểu bang bạn sống. Khi thi xong, nếu điểm tốt, bạn sẽ tiếp tục thi vào các kỳ cao hơn.

thi học sinh giỏi, Olympic, học sinh Mỹ, đổi mới giáo dục
Một buổi thi Olympic Toán quốc tế. Ảnh: Vnmath.com
Không có “lò”, tự luyện thi

Vậy ai luyện thi cho bạn? Câu trả lời là chính bạn. Khi đăng ký kỳ thi AMC đầu tiên, bạn sẽ nhận được khá nhiều giá trị cộng thêm từ khoản lệ phí thi đã nộp. Theo đó bạn và thày giáo dạy Toán của bạn ở trường sẽ nhận được các Tạp chí Toán học, bản tin điện tử về Toán, giảm giá các loại sách, video về Toán của HHTH Mỹ bán ở hiệu sách, tham gia các khóa học trực tuyến, giảm giá cho vé tham dự các cuộc họp và hội thảo về Toán hàng năm… Đây là những tài liệu và hoạt động đa dạng của HHTH Mỹ giúp bạn học Toán và chia sẻ những vấn đề băn khoăn với cộng đồng Toán học toàn nước Mỹ. Còn lại thì bạn tha hồ tự “luyện chưởng”.

Để giúp thêm học sinh, HHTH Mỹ cho ra những lời khuyên. Theo đó, cách tốt nhất để học giỏi Toán và thi lọt các vòng là liên tục làm Toán, thực hành không ngừng nghỉ. Với các bài viết trong phần giải Toán thì phải làm sao trình bày cho rõ ràng, khúc chiết. Nên tìm nhiều cách tốt nhất để giải một bài Toán, vì chẳng có bài Toán nào chỉ có một cách duy nhất. Muốn học giỏi Toán thì nên học từ bạn bè, cũng như liên tục học hỏi từ những bậc thầy bằng cách đọc các sách Toán họ viết hoặc liên lạc bằng mọi cách nếu có thể.

Quan điểm GD Mỹ cho rằng, một học sinh giỏi Toán thì nên học hỏi từ quá khứ, nên liên hệ những vấn đề mới từ những vấn đề cũ để học hỏi thêm về sự tương đồng hay sự khác biệt. Và ngay cả khi kỳ thi đã kết thúc, mỗi học sinh cần tiếp tục suy nghĩ về những bài toán mà cuộc thi đặt ra và thảo luận với người khác. Cuối cùng, họ khuyên học sinh nên kiên nhẫn học Toán.

Như vậy, khác hẳn với các học sinh giỏi ở Việt Nam, sau khi đi qua kỳ thi tuyển chọn đầu tiên bắt đầu lọt dần vào các đội tuyển và được luyện như luyện gà chọi, học sinh Mỹ phải tự học là chính. Và trong quá trình này, các học sinh Việt Nam có thể được trường “đặc cách” cho nghỉ bớt môn phụ, thậm chí bỏ học các môn khác vài tháng, về học bù sau mà chỉ tập trung vào học môn mình sẽ tham gia thi học sinh giỏi. Trong khi đó, học sinh Mỹ vì tự học môn nào là do ưa thích và đam mê, tự đi thi vì nỗ lực muốn chứng minh bản thân có khả năng vượt qua thử thách, nên ở trường vẫn học tất cả các môn học không có gì thay đổi.

Hơn nữa, các kỳ thi học sinh giỏi tại Mỹ chỉ là một phần thước đo giá trị của học sinh. Tại trường phổ thông Mỹ, một học sinh được coi là xuất sắc phải “văn võ song toàn”. Tức là đương nhiên có thành tích học tập tốt, nhưng ngoài ra em này còn là người có năng khiếu và thành tích trong thể thao hay nghệ thuật. Chưa hết, em này còn có khả năng tham gia các hoạt động cộng đồng, có thành tích lãnh đạo, các kỹ năng mềm trong đời sống đều xuất sắc.

Vì vậy, các học sinh giỏi Toán cũng vẫn có thể vẽ đẹp, chơi thể thao cừ và hoạt động từ thiện tích cực. Hình ảnh của một học sinh giỏi như vậy tràn đầy sức sống và rất gần gũi với những gì xã hội cần. Nó khác hẳn hình ảnh những học sinh giỏi theo kiểu “gà chọi” của ta, chỉ biết một môn mà mình giỏi, mắt cận thị vì học nhiều quá và thân thể không cường tráng cho lắm vì không có thời gian tập thể thao. Đó là chưa kể nhiều em chuyên học Toán, Lý, Hóa giỏi thì giao tiếp và hoạt động xã hội rất yếu.

Ba ngày và vài năm

Dù sao tôi vẫn còn một điểm tò mò. Cho dù là học sinh Mỹ tự học thế nào, vậy vẫn còn kỳ thi Olympic quốc tế, không lẽ lại không chuẩn bị cho các em. Vì kỳ thi Olympic Hóa học quốc tế lần thứ 46 đến gần, tôi vào website của American Chemical Society, Hiệp hội Hóa học Mỹ xem thử.

Thông tin ở đây cho hay, các học sinh trung học Mỹ, sau khi trải qua các kỳ thi học sinh giỏi Hóa (cách thức tương tự thi Toán) sẽ chọn ra 20 thành viên xuất sắc nhất. Các em này sẽ được mời đi cắm trại 3 ngày trước kỳ thi. Sau 3 ngày, từ 20 em sẽ chọn ra 4 em xuất sắc nhất để tham dự kỳ thi cuối cùng… Chỉ vẹn vẹn ba ngày so với hàng nhiều năm luyện trong lò của học sinh ta.

Như vậy, từ cách chuẩn bị cho đến cách thi và lựa chọn học sinh giỏi của Mỹ thật khác xa cách làm ở VN hiện nay, và từ đó cho ra những “sản phẩm” học sinh giỏi cũng rất khác nhau. Một bên là những học sinh giỏi do thực sự đam mê, yêu thích và có khả năng tự học và kiên trì, chịu cạnh tranh cao độ, dưỡng sức để có thể trở thành một nhân tài có thể cống hiến lâu dài cho xã hội. Một bên là tạo ra những học sinh giỏi ban đầu từ đam mê, yêu thích, sau biến thành gà chọi trong lò luyện, chỉ biết một mục tiêu duy nhất đi thi đoạt giải và có thể có nhiều hệ lụy đi kèm.

Học sinh giỏi Việt Nam rất thông minh, kiên nhẫn, đam mê. Nhưng muốn những nhân tài này hữu dụng hơn cho xã hội mai này, có lẽ chúng ta cần sớm thay đổi cách dạy, cách học, các thi, cách khuyến khích tài năng cho phù hợp.

An Dung

Bán khoai lại trở về làm Khoai Bán

Ảnh vui về lễ tốt nghiệp là lễ thất nghiệp

Các bạn tân sinh viên 2014 cần lấy để cố gắng ngay từ ngày đầu , giờ học đầu , học kỳ đầu của năm học đầu tiên đại học

ban khoai

Video hướng dẫn học đại học hiệu quả cho tân sinh viên 2014

Học đại học hiệu quả cho tân sinh viên – Tiếp Sức Tri Thức Sinh Viên
http://www.facebook.com/groups/hanhtrangnghenghiep

Thân gửi thầy cô và các em học sinh

Chúc mừng các em đỗ đại học và cao đẳng . Gửi tới các em chương trình hướng dẫn học đại học online hiệu quả hoàn toàn miễn phí giúp các em chuẩn bị tốt cho học đại học 4 năm tới. Các em có thể đăng ký vào group http://www.facebook.com/groups/hanhtrangnghenghiep để nhận tư vấn chuyên môn về học thuật, chuẩn bị việc làm trong suốt 4 năm

1-Học đại học trong thế kỷ 21 phần 2

2-Học đại học trong thế kỷ 21 phần 1

3-Cách ghi chép bài giảng trong học đại học

4-Làm thế nào để tập trung trong lớp học

5-Những cú sốc đại học cho các bạn tân sinh viên

6-Các bạn tân sinh viên làm gì để nhập học

7-Các thói quen thành công trên giảng đường đại học

8-Làm thế nào các bạn sinh viên biến mục tiêu thành kết quả

9-Phương pháp học Power

10-Phương páp SQ 3 R phần 2

11-Phương pháp SQ 3 R phần 1

12-Ghi chép note hiệu quả trong học đại học

13-6 mức độ học đại học phần 2

14-Tại sao sinh viên quản lý kém thời gian

15-Tám quan điểm học đại học sai lầm của sinh viên

16-Xây dựng hình ảnh giảng đường tích cực

17-20 kỹ năng học đại học hiệu quả

18-8 mãu hình tư duy và học tại bậc đại học

19-Tại sao quản lý thời gian lại quan trọng với sinh viên

20-Tại sao học trên giảng đường là quan trọng nhất

21-Học bài và ôn bải ngay khi nghe giảng

22-Học đại học khác gì học phổ thông

23-Chuẩn bị bài giảng cho học đại học

24-Các hoạt động học tập tại đại học phần 2

25-Các hoạt động học tập tại đại học phần 1

26-Học hiểu hành và hoàn thiện công thức 4 H

Giấc mơ 1 triệu đô trước tuổi 30. Ảo tưởng!

Giấc mơ 1 triệu đô trước tuổi 30. Ảo tưởng!

Tôi từng chứng kiến vô số những tay trẻ gục ngã giữa đường, gục ngã chỉ sau 1-2 năm ra trường, chỉ sau vài năm hào hứng và đầy tự tin về giấc mơ 1 triệu đô trước tuổi 30. Ảo tưởng!

Mơ một giấc mơ đẹp, bạn chỉ mất một ngày nhưng để có kỹ năng phát triển bản thân, làm nền tảng cho thành công của cả cuộc đời, bạn cần từ 5 năm tới 10 năm miệt mài, thậm chí cần cả cuộc đời không ngừng rèn luyện, trau dồi kỹ năng

Tôi gọi đó là thế hệ “Cha giàu, con nghèo” khi có quá nhiều bạn trẻ ảo tưởng rằng sự giàu có đến nếu chỉ cần đọc thuộc làu cuốn sách Cha giàu, Cha nghèo, ảo tưởng về đầu tư tài chính, về thành lập công ty trước khi rời ghế nhà trường. Ảo tưởng về một thứ “đi tắt, đón đầu” ! Dĩ nhiên, không phải tất cả đều thất bại, nhưng hầu hết. Chỉ có vài người thành công, rồi thành công ấy lại được tô vẽ khiến những đứa trẻ khác ảo tưởng. Và kể cả vài sự thành công được tô vẽ đó cũng không biết sẽ màu mè được bao nhiêu lâu. Vô số xác chết doanh nghiệp, vô số những giấc mơ, tham vọng tan biến chỉ sau vài tháng bước chân vào công cuộc kinh doanh phũ phàng. Và những kẻ bại trận đó không nói một lời hoặc âm thầm cam chịu rồi từ từ biến mất…

Mơ một giấc mơ đẹp, bạn chỉ mất một ngày nhưng để có kỹ năng phát triển bản thân, làm nền tảng cho thành công của cả cuộc đời, bạn cần từ 5 năm tới 10 năm miệt mài, thậm chí cần cả cuộc đời không ngừng rèn luyện, trau dồi kỹ năng. Và bạn cần bắt đầu từ 14-15 tuổi hoặc sớm hơn chứ không phải chờ đến 25 tuổi, khi đã nếm trải thất bại, vét sạch số tiền tự mình tích góp được hoặc của bố mẹ tin tưởng giao cho. Và để thành công, bạn không cần gì khác ngoài những mơ ước, mục tiêu, sự nỗ lực không ngừng và nhất là phải trang bị cho bản thân những kỹ năng quan trọng, cần thiết đế hiện thực hóa những ước mơ đó.

Mười hay mười lăm năm trước, tôi rất ngạc nhiên khi gặp những “đại gia” thực sự của Việt Nam, với những kỹ năng điêu luyện và thành thạo đến mức khó tin. Họ không có điều kiện học hành bài bản như hầu hết các bạn trẻ hiện nay, nhưng kỹ năng hoạch định kế hoạch, phác thảo tầm nhìn, tư duy, nói, viết, thuyết phục của họ thật tuyệt vời.

Nhiều người trong số đó khi lập nghiệp chưa từng nghĩ sẽ sau này họ trở thành tỷ phú, họ đơn giản chỉ muốn làm việc với niềm đam mê chế tạo ra con xe, sản xuất cái quạt, chiếc đồng hồ… Tôi đã có dịp chứng kiến một “đại gia” ngồi chỉ bảo tỉ mỉ cho 3 kỹ sư thế hệ 7X, 8X từng chi tiết cần sửa của chiếc xe khách. Ông ta mới chỉ tốt nghiệp đại học Mỏ. Cũng chính “đại gia” đó đã phác ra mô hình khu trang trại bằng những que diêm cho đám kiến trúc sư học hành bài bản ngồi lọ mọ thiết kế chi tiết sau này. Tôi cũng từng nghe kể về kỹ năng của đại gia V., người đã chỉ cho các kỹ sư của mình từng vị trí rồi cách thức xây dựng của các tòa nhà trong cả một khu dự án hàng chục hecta. Bạn đừng cho rằng họ chỉ có tham vọng. Đừng nhầm lẫn rằng họ chỉ có mong muốn làm giàu. Đừng nghĩ họ chỉ quan tâm đến toàn cục hay vẻ bề ngoài.

Tôi tin chắc những con người thành đạt đó thực sự nắm rõ về ngành nghề của họ hơn những kẻ tự xưng là chuyên gia, hay nhà chuyên môn chỉ biết nói nhăng nói cuội. Donald Trump chắc chắn không chỉ có tư duy kinh doanh, mà còn có tư duy về thiết kế hơn bất cứ tay kiến trúc sư hay thiết kế nào; Bill Gates không chỉ biết đến kiếm tiền mà còn nắm rõ các khối lập trình rồi diễn đạt nó cho đám lập trình viên, và còn rất nhiều bài học hữu ích từ những nhân vật nổi tiếng thành công khác nữa.

Tôi mê say tìm hiểu về Warrent Buffett qua cuốn sách Warrent Buffett – Sự hình thành một nhà tư bản Mỹ đã được Alpha Books xuất bản, đặc biệt là giai đoạn ấu thơ của ông. Bây giờ, nhiều người nói chỉ cần học các nguyên tắc đầu tư của ông là có thể kiếm tiền, giàu như ông. Này, đừng nhầm như thế. Đừng ảo tưởng rằng chỉ cần đọc qua loa vài nguyên tắc của ông rồi áp dụng nó để kiếm tiền. Nếu đọc kỹ hơn, bạn sẽ hiểu rằng, đằng sau những nguyên tắc tưởng như đơn giản chỉ cần học trong vài tuần là cả một quá khứ, bề dày kinh nghiệm hàng chục năm quen thuộc với các con số, quen thuộc với hoạt động doanh nghiệp…

Từ Henry Ford, Sam Walton cho đến Steve Jobs, tất cả họ đều giống nhau, tỉ mỉ trong từng chi tiết công việc với những kỹ năng tuyệt vời. Ai có thể tự tin rằng mình giỏi thuyết trình như Steve Jobs? Ai tự tin đã gõ búa nhiều như Henry Ford? Ai tự tin chú ý đến từng cái tăm, từng sợi chỉ trong từng cửa hàng bán lẻ như Sam Walton…? Trong tất cả mọi cuốn sách về các nhân vật lịch sử, chính trị gia, doanh nhân… tôi luôn dành mối quan tâm hàng đầu đến thời niên thiếu của họ. Tôi tò mò muốn tìm hiểu và khám phá xem họ đọc gì, làm gì, nghĩ như thế nào, rèn luyện ra sao… Sau này, nhiều hội thảo đều đề cập đến bí quyết làm giàu của W.Buffett và cuối cùng đưa ra lời khuyên rằng, hãy đầu tư theo cách của ông ta, bạn nhất định sẽ giàu. Thật điên rồ và ảo tưởng hết sức! Thử nghĩ xem, nếu bạn không có tố chất như W. Buffett, không nỗ lực rèn luyện suốt thuở thiếu thời, cũng không có kỹ năng thành thạo như ông, bạn sẽ không bao giờ giàu như ông ta chỉ thuần túy nhờ vào việc học các nguyên tắc đầu tư.

Sách không bao giờ đủ cho những người muốn rèn luyện kỹ năng, và đương nhiên, chúng ta không thể thiếu sách nếu muốn sở hữu những kỹ năng thành thạo. Một số cuốn sách mà theo tôi sẽ rất hữu ích đối với các bạn trẻ là Bộ S4S (gồm 50 điều trường học không dạy bạn, 20 điều cần làm trước khi rời ghế nhà trường, Bản CV hoàn hảo, Vượt qua thử thách trong phỏng vấn tuyển dụng) giúp các bạn trẻ trang bị nhiều kỹ năng cần thiết cho công cuộc tìm kiếm việc làm; Bộ Thật đơn giản: Thuyết trình, Phỏng vấn tuyển dụng, Quản lý dự án cung cấp cho bạn trẻ những bí quyết giúp bạn trau dồi được kỹ năng thuyết trình, thiết lập và quản lý các dự án công việc; hoặc gần đây nhất là những cuốn sách do Alpha Books biên soạn như Người giỏi không bởi học nhiều – chìa khóa tiếp cận với những kỹ năng sống và học tập thông minh để đat được những kết quả cao nhất; hay Những điều doanh nghiệp không dạy bạn- cung cấp những kỹ năng gần gũi và cơ bản nhất cần có đối với những sinh viên năm cuối hoặc những người vừa tốt nghiệp các trường đại học đang lao mình vào công cuộc tìm kiếm việc làm đầy tính cạnh tranh.

Bạn có thể đọc đến hàng trăm, hàng nghìn cuốn sách, nhưng điều then chốt nhất là bạn phải rèn luyện. Nếu muốn giỏi viết lách, bạn phải tập viết thư một trăm lần, thậm chí cả nghìn lần. Nếu muốn biết cách thuyết trình, bạn phải tập nói lưu loát, trình bày rõ ràng quan điểm của mình trước bạn bè, trước nhóm, rồi cho đến đám đông, không phải dăm mười lần mà hàng trăm, hàng nghìn lần. Nếu muốn lên kế hoạch tốt, bạn phải tập tành tỉ mỉ, chi tiết từ những bản kế hoạch nhỏ, dần dần đến kế hoạch cho những việc lớn hơn, kế hoạch cho 1 ngày, 1 tuần, rồi 1 tháng, 1 năm, 5 rồi 10 năm… Hãy hành động ngay từ hôm nay bằng cách trau dồi và hoàn thiện những kỹ năng của bản thân, nỗ lực làm việc, làm chủ cỗ xe thành công, làm chủ cuộc sống của bạn!

Nguyễn Cảnh Bình CEO Alpha Books

Hãy để các con tự lập khi đã trưởng thành

Hãy để các con tự lập khi đã trưởng thành

Người Việt ta từ xưa đến nay vẫn có thói quen bảo vệ và che chở con từ khi còn nhỏ, đến khi con trưởng thành vẫn muốn được bảo bọc con. Điều này vô tình lại “hại” con mình, nó không tốt chút nào trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

Hình ảnh các phụ huynh dẫn các sĩ tử đi thi đại học là điều dễ nhận thấy ở trên đường tại các thành phố lớn trong những ngày này. Họ tay xách, nách mang, luôn theo sát con vì sợ con bị tổn thương trong môi trường mới lạ.

Bên trong phòng thi, các sĩ tử thì đang tập trung cao độ, vận dụng hết tất cả kiến thức mình có để đầu tư cho một cuộc thi mang tính chất bước ngoặc của cuộc đời. Bên ngoài cũng căng thẳng chẳng kém. Đó là những gương mặt ngong ngóng vào trường thi, hồi hộp, lo âu, không biết con mình, em mình làm bài thi thế nào?

Giao thông thường tắc nghẽn tại các điểm thi đại học do rất đông phụ huynh của các sĩ tử chen chúc đứng hai bên đường, thậm chí tràn xuống lòng đường. Nhiều điểm kẹt xe hàng giờ khi thí sinh kết thúc buổi thi tràn ra đường.

Tại sao các em đã đủ 18 tuổi, có thể nói đã trưởng thành thật sự rồi mà phụ huynh vẫn cứ bao bọc mãi thế?

Nhiều nước trên thế giới, trẻ em đã được giáo dục sống tự lập từ nhỏ, trẻ có thể phải tự đương đầu với khó khăn để dần thích nghi với môi trường sống nên khi lớn lên con người tự đứng vững trước mọi tình huống. Người Việt ta thì ngược lại.

Tình thương bao la của cha mẹ dành cho con cái là một điều không thể nào phủ nhận, tình thương đó thật thiêng liêng. Nhiều sĩ tử khóc khi được ba mẹ không quản khó khăn để cùng con đến hết mùa thi. Cha mẹ luôn sợ con không biết đường, sợ con bị kẻ xấu lừa, sợ con ăn uống không đầy đủ… trong thời gian đi thi. Những nỗi sợ ấy của cha mẹ đang ‘tiếp tay’ cho tính ỷ lại của con cái, vì thế khi gặp khó khăn, các em sẽ không đủ nghị lực, vốn sống để đương đầu và vượt qua.

Chúng ta đã bao bọc con quá kỹ từ khi còn bé, đến khi trưởng thành vẫn không cho con được tự bước đi. Cuộc sống còn nhiều sóng gió mà cha mẹ không thể theo sát con cái suốt đời được, vậy hãy để các con tự bước đi trên đôi chân của mình. Những ngày này chỉ là những bước đi đầu đời thôi, nếu vấp ngã con sẽ tự đứng dậy.

Xin các phụ huynh hãy thả những chú chim tràn đầy nhựa sống được tung cách trên bầu trời của cuộc đời, dẫu có mưa giông, hay bão tố hãy để những cánh chim ấy tự xoay sở vượt qua.

Xin đừng ôm ấp mãi các con như kiểu gà ấp trứng. Hiện nay, các em đi thi đại học đều luôn được những tình nguyện viên của chương trình “Tiếp sức mùa thi” là các sinh viên nhiệt tình giúp đỡ ngay từ các bến tàu, bến xe và luôn sẵn sàng hỗ trợ thí sinh, từ nhà trọ, ăn uống, đi lại… Vậy các bậc phụ huynh chúng ta còn lo lắng điều gì nữa?

Hãy để các em tự va chạm với cuộc sống, giúp các em được trưởng thành hơn, vững tin bước vào ‘trường đại học lớn’… trường đời.

Nguyễn Văn Tứ (*)

(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, sinh viên Trường cao đẳng PT-TH TP.HCM

Có nhất thiết phải vào được đại học?

Có nhất thiết phải vào được đại học?

Nếu đặt câu hỏi này cho các bậc phụ huynh lẫn các em học sinh ở Việt Nam thì câu trả lời đa số sẽ là: Có. Từ lâu, xã hội Việt Nam đã có một niềm tin rất bền vững là: Học đại học là con đường duy nhất để thành đạt. Muốn có công việc tử tế, tương lai tươi sáng thì phải học đại học.

Niềm tin này cũng xuất hiện ở các quốc gia khác. Trong những ngày này, khi các em học sinh Việt Nam đang bước vào kỳ thi đại học khốc liệt thì đồng loạt các trường đại học tại Anh cũng đang tưng bừng với các ngày hội thông tin tuyển sinh, giới thiệu trường (Open Days).

Hàng vạn em học sinh cùng phụ huynh đã đến các trường đại học tham quan, nghe giới thiệu chi tiết về các khoá học, điều kiện sống, học tập ở đó trước khi quyết định nộp hồ sơ ứng tuyển.

Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, kỳ thi đại học cũng được xem là “cơ hội sống còn” cho tương lai của các em học sinh. Hàng triệu học sinh phải học hành chăm chỉ ngày đêm, cạnh tranh quyết liệt để có chỗ trong các trường đại học danh giá.

Niềm tin này không sai khi hiện nay, trên toàn thế giới, phần lớn thông tin tuyển dụng việc làm lao động trí óc đều đòi hỏi trình độ đại học, phần lớn những người thành đạt trong xã hội đều tối thiểu có bằng cử nhân, kỹ sư trong tay.

Với xã hội coi trọng bằng cấp và truyền thống khoa cử như Việt Nam, việc vào được đại học càng trở nên quan trọng hơn nữa. Có con cái thi đậu đại học, lấy được bằng đại học là niềm tự hào của không ít ông bố, bà mẹ Việt Nam. Ngược lại, con thi rớt đại học thì trở thành nỗi thất vọng lớn, thậm chí có người cho rằng đó là một sự xấu hổ cho gia đình. Với nhiều em học sinh, không vào được đại học tựa như đặt dấu chấm hết cho cuộc đời.

Tuy nhiên, có bằng đại học, có bảo đảm cho sự thành công cho tương lai của cá nhân? Thất bại trong kỳ thi đại học, có phải cuộc đời đi vào ngõ cụt?

Thực tế đã chứng minh hàng chục vạn thanh niên Việt Nam sở hữu bằng đại học trong tay mà vẫn thất nghiệp. Đi dạy gần 10 năm ở các trường đại học, tôi nhận ra rất nhiều em sinh viên đã lọt qua cánh cửa hẹp để vào các trường đại học tử tế nhưng hoàn toàn không thích thú gì với việc học hành, cũng không có bất cứ định hướng rõ ràng nào về công việc mình sẽ làm trong tương lai. Những cái bóng vật vờ lên lớp, ì ạch vượt qua các bài kiểm tra, các kỳ thi để lấy được cái bằng không hiếm trên các giảng đường đại học. Có vẻ như môi trường đại học không phải là lựa chọn phù hợp cho các em ấy. Bởi thế, suốt quãng thời gian học đại học, các em không tích lũy được đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để đáp ứng các yêu cầu công việc của xã hội. Kết quả, các em dù có bằng đại học vẫn thất bại trong nghề nghiệp.

Ngược lại, tôi chứng kiến nhiều em học sinh quyết định từ bỏ đeo đuổi thi vào đại học, rẽ hướng sang các trường dạy nghề, trung cấp nghề, học các khoá ngắn hạn nhưng lại rất thành công.

Từng dạy cho sinh viên hệ trung cấp ngành du lịch- nhà hàng- khách sạn, tôi hoàn toàn nhất trí với cách lựa chọn ngành lẫn nghề của các em: phù hợp với sở thích lẫn năng lực. Học môn nào chữ nghĩa nhiều là các em khổ sở vì khó hiểu nhưng những thao tác nấu nướng, tiếp tân, phục vụ thì tiếp thu nhanh hơn cả tôi.

Nhiều em sau đó thành đầu bếp ở các nhà hàng, khách sạn cao cấp mà mức lương bỏ xa cả giảng viên đại học, bác sĩ, kỹ sư. Em nào không xuất sắc, chỉ cần thạo nghề cũng chưa phải thất nghiệp ngày nào, mức lương ở một nhà hàng nhỏ hay khu nghỉ dưỡng cũng gấp đôi nhân viên văn phòng bình thường.

Tôi cũng biết các học viên ở các trường nghề học các ngành hàn, tiện, may, sửa xe máy, trang điểm… thôi nhưng tìm việc không khó. Cử nhân vật lộn 4 năm, ra trường cũng lương 4-5 triệu đồng/ tháng, các em cũng được kiếm được số tiền tương đương dễ dàng. Có em làm thuê vài năm lấy kinh nghiệm rồi tự mở quán ăn, nhà hàng, xưởng riêng, ban đầu làm nhỏ nhỏ, sau mở rộng dần.

Vẫn biết chương trình đại học là lý tưởng để trang bị những kiến thức, kỹ năng cho cá nhân tham gia vào các hoạt động xã hội, điều này, ngay cả những người thành công nhờ bỏ ngang chương trình đại học như Bill Gates (sáng lập Microsoft), Steve Jobs (cha đẻ của iPhone, iPad, iPod), Mark Zuckerberg (phát minh mạng xã hội Facebook) để tập trung sự nghiệp sáng tạo cũng thừa nhận.

Tuy nhiên, xã hội có sự phân công lao động rõ ràng và cần con người làm việc ở nhiều vị trí khác nhau, trong đó, có nhiều vị trí không nhất thiết phải được đào tạo bằng chương trình đại học kéo dài nhiều năm. Học tập là cần thiết nhưng con người có thể học bằng nhiều cách khác nhau, trong đó, quan trọng nhất là tự học. Ngoài ra, mỗi cá nhân cũng có những năng lực và niềm đam mê khác nhau, không thành công hay không theo đuổi con đường học đại học, họ vẫn có thể phát triển bản thân ở những con đường khác.

Có chăng là xã hội Việt Nam cần phải thay đổi cách nhìn về một người thành đạt, không nhất thiết phải chức vụ cao, bằng cấp nhiều mới đáng được nể trọng. Bất cứ cá nhân nào lao động chân chính, tự nuôi sống bản thân, gia đình, đóng góp tích cực, khẳng định được vị trí vững chắc trong cộng đồng thì vị trí ấy dù là một đầu bếp, một thợ sửa xe, một thợ may hay một thợ trang điểm đều đáng tự hào.

Nguyễn Thị Thu Huyền*

* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, là giảng viên Đại học Sư phạm TP.HCM, hiện đang học tiến sĩ tại Anh

Đại học và những ảo tưởng

Đại học và những ảo tưởng

Có 2 thái cực thường xảy ra trong môi trường đại học: Hoặc là học giỏi nhất trường, trở thành thạc sĩ tiến sĩ vinh danh dòng họ, hoặc là bỏ học giữa chừng, vứt sách cho trường, ra ngoài kinh doanh và thành đạt ghê gớm.

Vinh danh dòng họ – rạng danh gia đình

Thuở đại học, bạn bè và tôi thường có những buổi ngủ cùng nhau, ở đó, họ chia sẻ rằng “tao đi học vì cả dòng họ tao chỉ có mình mẹ tao nuôi được tao đến mức này”, hoặc “mình vào đại học, mẹ mình hạnh phúc khóc hết một buổi sáng”. Những cảm xúc như thế đã lót đường cho không biết bao nhiêu người trẻ Việt Nam vào đời. Họ đậu đại học – vinh danh họ tộc – làm rạng rỡ cha mẹ – họ lên đường chinh phục chân trời mới. Công thức chung ấy ám ảnh nhiều người trẻ – lẫn cha mẹ Việt Nam. Học đại học là chuẩn mực duy nhất để làng xóm đánh giá một đứa trẻ có phải “ngoan” hay không, hoặc cha mẹ ấy “có phúc” hay không. Có năm, tôi đọc báo mà rơi nước mắt, có em học sinh tự tử vì không đậu đại học, vì nghĩ mình đã làm tủi hổ cả dòng họ.

Đại học – giống hệt anh trạng nguyên ngày xưa – phải mặc mũ áo về tận làng, kèn trống rước đưa, mới được xem như báo đền công cha nghĩa mẹ, nghĩa vợ. Còn cái đứa nhỏ 18 tuổi, lơ ngơ xách balô lên thành phố đi học, lại mang trong mình bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu trăn trở, nó sẽ là gì, nó thực sự muốn gì, nó sẽ là ai trong cái cõi đời hàng trăm sinh viên giống hệt nó, nó sẽ làm gì để ra đời mà hạnh phúc? Các câu hỏi như vậy được vùi lấp đi trong nghĩa vụ của một “người lính học tập”: Cha mẹ muốn con thành đạt, dòng họ muốn con làm chức to, người yêu ở quê muốn thấy con giàu. Thật là nhọc nhằn.

Có lẽ, đã đến lúc người lớn phải hạ lá cờ “hiệu triệu đại học” của mình xuống để không nhầm lẫn về những giá trị mà con cái chúng ta có được từ ngôi trường mơ ước. Đại học không phải là nơi giúp một con người trở nên có danh dự, đó là nơi cung cấp kiến thức chuyên môn, để một con người có nghề nghiệp, có thêm kiến thức và từ đó biết ứng xử và làm việc tốt hơn sau khi tốt nghiệp. Đại học không phải là chỗ để ta ném vào con những kỳ vọng như “kiếm vài chục triệu mỗi tháng như chú bác sĩ gần nhà” hay “làm cho sáng rõ, tỏ mặt nhà mình”. Nó lại càng không phải là nơi giúp một con người (trẻ) có thể tô vẽ thêm lên vẻ đẹp của dòng họ hay các giấc mơ không thành sự thật của các bậc cha chú đi trước. Những đứa trẻ bị biến thành biểu tượng sẽ phải mang vác trên lưng khối trách nhiệm khiến nó không dám đi tìm hạnh phúc và ước mơ thật sự trong đời.

Từ ấy, người ta nghe nói về những bi kịch, như đứa sinh viên biết khao khát của cha mẹ như vậy, nên cứ vài bữa lại điện thoại về nói con đóng tiền học ngoại ngữ thứ hai, đóng tiền tập thể thao, đóng tiền giáo trình rồi cầm hết đống tiền bán trâu bán bò của cha mẹ đi… chơi số đề. Có những em sinh viên, sau ngày tốt nghiệp không tìm được việc làm, không dám về quê, vì nghe nói ở quê đứa bạn mình ngày xưa rớt tốt nghiệp giờ đã là chủ một xưởng trồng nấm – “Nó học đâu có bằng em, giờ em về tay trắng thế này nhục lắm”.

Nỗi buồn không đáng có như vậy, sinh ra từ quá nhiều kỳ vọng xã hội đặt lên vai người đi học.

“Bill Gates bỏ học để thành tỉ phú”

Ở một tấm gương phản ngược lại của việc sùng bái đại học, là những người trẻ chuyền tay nhau câu chuyện “Bill Gates bỏ học”. Trong tất cả những quyển sách thành công, danh nhân, rất ít người trích dẫn lại các thiên tài Bill Gates hay Steve Jobs đã phải cực khổ và trí tuệ đến mức nào để xây dựng đế chế hôm nay của họ, nhưng ở rất nhiều trung tâm dạy làm giàu, dạy thành công, người ta nhấn mạnh: Bill Gates thành công nhờ bỏ học.

Tôi thường tự hỏi, có phải vì sống quá lâu trong nghèo khổ hay không mà bây giờ lại có nhiều sinh viên đam mê lao vào những lớp học “Một ngày thành triệu phú” như vậy. Đa số các em ấy, khi được hỏi, đều nói rằng đại học là một sự lầm lạc, một sự chán nản, không thấy rõ tương lai gì hết. Vì quá kỳ vọng vào một chân trời nào đó, khi chân trời ấy mờ đi, các em lập tức phải bấu lấy một chân trời mới. Ở đây, thiên đường đại học mang lượng kiến thức “lệch pha” và cũ kỹ so với thế giới bên ngoài đã đẩy nhiều người trẻ vào tuyệt vọng. Họ loay hoay so sánh mình với nghề nghiệp bên ngoài, loay hoay đọc trên mạng thấy thế giới đã đi quá xa, quá hiện đại. Đập bỏ đền đài đại học, họ lao vào ảo tưởng “bỏ học chắc chắn sẽ làm giàu”.

Bỗng từ đó, xuất hiện những khóa học 2 ngày “trở thành triệu phú”, “triệu phú trong tay bạn”… đôi khi người học phải đóng cả chục triệu đồng để được hò hét, trấn an tinh thần, học các kỹ năng mềm để thành triệu phú. Những gương mặt thơ ngây ấy dường như không hiểu rằng nếu nắm được bí quyết trở thành triệu phú thật, chắc các ông thầy đang rao giảng kia của họ chẳng mất thời gian đi dạy để kiếm vài triệu từ học trò làm gì.

Câu chuyện của chàng trai bỏ học mà vẫn thành công, cãi nhau với thầy rồi thành đạt… quá hấp dẫn với những “kẻ nổi loạn” muốn dứt bỏ các ảo tưởng gắn lên mình từ khao khát với đại học thần thánh. Nhưng có bao nhiêu kẻ nổi loạn kia sẽ trở thành triệu phú? Số còn lại vất vưởng trong đời, đi xin việc luôn bị mắc kẹt trong câu hỏi: “Em không có bằng hả?”, vì chẳng có một ưu thế nghề nghiệp nào quá rực rỡ khiến nhà tuyển dụng quên đi cái bằng.

Ở cả hai thái cực, người tuyệt vọng nhất là người trẻ mới vào đời. Đại học chưa bao giờ xấu, nó là thời gian cần thiết để ta 18 tuổi, làm quen dần với cuộc đời, quen với những người thầy có chuyên môn, với đàn anh giỏi nghề nghiệp, và bắt đầu tự rèn luyện mình – vì cái tương lai mà mình muốn vẽ ra. Ngôi trường đại học luôn là một môi trường ít phòng thủ hơn cái cuộc sống giành giật cơm áo ngoài kia, nơi người học được người dạy chia sẻ, nâng đỡ. Ảo tưởng rằng đại học là một mũ quan, võng lọng sẽ biến người học thành một kẻ mù lòa, trịch thượng, một đứa con hoang của tri thức. Kẻ ấy coi tri thức là danh vọng, chứ không phải thứ ta cần cho một đời làm việc.

Ảo tưởng rằng đại học là rác rưởi cũng tệ hại không kém, nó biến người học thành kẻ dốt nát, vì đã quay lưng với tri thức, và tưởng rằng với cái hình ảnh biểu tượng “Bill Gates bỏ học mà thành công” họ sẽ trở thành những kẻ háo hức nhầm lẫn, những kẻ chà đạp lên tri thức để kiếm tiền.

Tri thức không phải là thứ biểu tượng như bằng cấp, nó là một môi trường, một không gian, với con người cùng học và với những khả năng có sẵn trong ta được nâng lên gấp nhiều lần dựa vào sự hiểu biết và rèn luyện.

Không có đường tắt nào tới vinh quang, dù là bỏ học hay đại học.

Duy Minh (*)

(*) Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tác giả, một nhà báo tại TP.HCM

Người Việt ‘yếu’ ngoại ngữ và tư duy ‘tạm đủ’

Người Việt ‘yếu’ ngoại ngữ và tư duy ‘tạm đủ’

Tư duy ‘tạm đủ’ thể hiện ở nhiều lĩnh vực, mà học và sử dụng ngoại ngữ là một ví dụ.

Có thể không cần bàn thêm về tầm quan trọng của ngoại ngữ[1] trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay. Khi mà nguồn tài nguyên nước ngoài sẵn sàng gõ cửa, ngoại ngữ là chìa khóa để chúng ta có thể tiếp thu được những tri thức và đón nhận những cơ hội mới.

Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể khẳng định rằng, xét về mặt bằng chung, người Việt Nam không hề yếu ngoại ngữ, nhất là đối với thế hệ trẻ. Phần lớn các bạn có trình độ tiếng Anh đủ để giao tiếp với người nước ngoài. Chuyện ra đường gặp các bạn trẻ nhiệt tình làm “hướng dẫn viên” cho du khách nước ngoài không còn là hiếm. Rất nhiều bảng hiệu trên đường, thực đơn trong nhà hàng hay các sản phẩm trong siêu thị nước ta… có nội dung được thể hiện song ngữ tiếng Việt/ Anh, thậm chí chỉ có… tiếng Anh!

Điều này rất khác với các nước khác. Khi đến Hàn Quốc, người nước ngoài sẽ gặp khó khăn hơn nhiều khi giao tiếp, vì ở đây tiếng Anh không phổ biến đến thế. Đi taxi, muốn miêu tả địa điểm cũng không dễ, còn vào siêu thị thì cố gắng “nhìn nhãn đoán công dụng”. Đến Pháp, Ý tình trạng cũng tương tự đối với các bảng hiệu hoặc sản phẩm bày bán, dù người dân ở đây có thể sử dụng tiếng Anh thông thạo.

Như vậy, rõ ràng xét về mặt bằng chung, chúng ta thậm chí còn sử dụng ngoại ngữ nhiều hơn nhiều nước khác. Nhưng vì sao chúng ta vẫn bị xem là yếu ngoại ngữ?

ngoại ngữ, tiếng Anh, hội nhập, người Việt, tư duy cào bằng, trung tâm ngoại ngữ, taxi, tạp chí quốc tế, hướng dẫn viên du lịch
Trong thời đại toàn cầu hóa, ngoại ngữ rất quan trọng. Ảnh minh họa
…chỉ là chưa đủ “giỏi đến cùng”

Bởi, theo tôi, chúng ta chỉ “biết” ngoại ngữ, chứ chưa thực sự sử dụng được nó như một ngôn ngữ để phục vụ cho công việc. Một ngôn ngữ khi chưa được sử dụng để đạt mục đích cuối cùng của người truyền đạt thì chưa được xem là thông thạo.

Thông thạo một ngôn ngữ nhất định nghĩa là có thể sử dụng nó truyền tải nội dung chúng ta muốn, phục vụ tốt cho công việc của chúng ta, tùy theo từng cấp độ yêu cầu của công việc đó. Chẳng hạn, đối với người lái taxi, đó là biết được chính xác khách hàng muốn đến địa điểm nào, những chỉ dẫn kèm theo và giao tiếp được với họ. Đối với hướng dẫn viên du lịch là khả năng giới thiệu cho du khách về những địa điểm và khả năng điều hành chuyến đi.

Yêu cầu thông thạo ngoại ngữ đối với tầng lớp lao động “cao cấp” còn cao hơn thế rất nhiều. Đối với bác sĩ, yêu cầu đó là có thể nghiên cứu các tài liệu bằng ngoại ngữ, tư vấn cho bệnh nhân nước ngoài, và cao hơn, có bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế. Đối với luật sư là khả năng nghiên cứu pháp luật nước ngoài, tư vấn, tham gia tranh tụng bằng ngoại ngữ. Đối với các giảng viên là có thể viết những bài nghiên cứu, giảng dạy bằng ngoại ngữ, v.v…

Tiếc rằng, điều này chúng ta lại rất thiếu. Nói cách khác, chúng ta đang thiếu hụt một nguồn nhân sự có thể sử dụng “tiếng Anh cao cấp”, những người đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu một “Việt Nam mới” ra thế giới!

Theo số liệu thống kê [2], năm 2012, Việt Nam có 1.731 bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí quốc tế, so với 5.804 của Thái Lan, 7.828 của Malaysia, 10.125 của Singapore. Ngoại ngữ chưa đủ “giỏi” phải chăng cũng là một nguyên nhân cho con số “khiêm tốn” này?

Ngoại ngữ đương nhiên không phải là thước đo trí tuệ của một cá nhân hay một quốc gia. Nhưng nếu không có ngoại ngữ, hay chính là “ngôn ngữ” trong cộng đồng quốc tế, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong ngoại giao hay cao hơn nữa thể hiện tinh hoa của dân tộc. Điều này lý giải phần nào tại sao mặc dù người Việt về mặt bằng chung có thể “khá” ngoại ngữ, nhưng lại vẫn non yếu trong việc đưa các sản phẩm trí tuệ ra thế giới, cũng như thể hiện vai trò trong cộng đồng thế giới.

Tư duy “tạm đủ”

Như vậy gốc của vấn đề là gì khi người Việt ở một góc độ nhất định vẫn bị xem là “yếu ngoại ngữ”? Không thể biện hộ rằng VN nằm trong khu vực không sử dụng tiếng Anh để biện hộ. Vì nhìn xung quanh Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… tuy hệ thống chữ cái toàn toàn khác hệ Latin nhưng họ có rất nhiều đại diện làm việc khắp nơi trên thế giới. Và cũng không thể viện dẫn do “nước đang phát triển” để bào chữa, vì thực ra, thông thạo một ngoại ngữ không phải là một vấn đề quá khó đến mức phải giàu có mới làm được, nhất là đối với lao động trình độ cao.

Theo cá nhân người viết, điều này một phần xuất phát từ “tư duy tạm đủ” đã ăn sâu vào tính cách của người Việt Nam. Tư duy ‘tạm đủ’ của người Việt không chỉ thể hiện trong vấn đề học ngoại ngữ mà còn trong nhiều lĩnh vực khác. Đó là tư duy tiểu nông, chỉ cần mưa thuận gió hòa, đủ ăn đủ mặc là… đủ. Biết tiếng Anh sơ sơ đủ dùng là đủ, có tấm bằng đủ xin việc là đủ, chỉ cần biết tiếng Anh thôi là đủ, không cần ngôn ngữ khác, học Đại học thôi là đủ, đi làm lương đủ ăn là đủ…

Đương nhiên, mỗi người có một cách nhìn nhận khác nhau về nhu cầu và khả năng của bản thân, tuy nhiên khi cái tư duy “tạm đủ” là đặc tính phổ biến, nó sẽ trở thành tác nhân kéo lùi sự phát triển của dân tộc đó.

Khi VN mở cánh cửa ra thế giới, người Việt được đi ra nước ngoài nhiều hơn, có thể chúng ta sẽ nhận ra như vậy chưa “đủ”. Một trình độ tiếng Anh trung bình chưa đủ giúp chúng ta viết được một bài nghiên cứu có giá trị để được đăng tải trên các tạp chí quốc tế, chưa đủ giúp chúng ta có thể tranh luận một cách nghiêm túc cùng các đồng nghiệp nước ngoài.

Một vài bằng cấp chưa đủ để người tuyển dụng “hoảng sợ”. Một kiến thức hời hợt về thế giới từ những cuộc du lịch ngắn ngày, chụp ảnh và check-in hơn là tìm hiểu sâu về văn hóa – lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật chưa đủ để bạn ba hoa về những vùng đất đã đi qua trước bạn bè thế giới, khi cơ hội trải nghiệm của họ nhiều hơn nhiều lần.

Nếu còn giữ tư duy học tập và làm việc “vừa đủ”, học vì bằng cấp, hình thức, còn quan điểm làm việc để khoe mẽ hơn là vì khát vọng thực sự của bản thân, thì việc người Việt tụt hậu với thế giới sẽ còn là một vấn đề lâu dài, không chỉ trong chuyện học ngoại ngữ.

Vũ Kim Hạnh Dung (Đại học Kinh tế – Luật Tp. Hồ Chí Minh)

Những điều Google cần thấy từ ứng viên

Những điều Google cần thấy từ ứng viên

Làm việc tại Google là ước mơ. Tuy nhiên các bạn có thể không có khả năng làm việc tại Google vì đơn giản các bạn ở Việt Nam và không tiếp cận hệ thống tuyển dụng Google. Tuy nhiên học tập những điều mà Google mong muốn từ ứng viên sẽ giúp cho các bạn đã sáng sẽ còn chói lòa hơn nữa trong con mắt chuyên viên tuyển dụng. Các điểm sáng mà Google muốn thấy từ ứng viên

01- Dot connecting : Phát hiện, học hỏi và kết nối những điều tưởng chừng không có liên hệ trong một thế giới phẳng thay đổi từng phút giây

02- Kỹ năng lãnh đạo tình huống: Khi một nhân viên sẵn sàng đứng ra nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo và sẵn sàng lùi lại nhường cho người khác thích hợp hơn khi sự vật tiến triển

03- Trách nhiệm đối với công việc và dự án

04- Khiêm tốn chấp nhật ý kiến hay kiến thức hay người khác và thay đổi theo tình hình

05- Tất nhiên đó là kiến thức chuyên môn một lĩnh vực nào đó

Chúc các bạn thành công