Mỏi mòn tìm việc, sinh viên ra trường làm công nhân

Mỏi mòn tìm việc, sinh viên ra trường làm công nhân

Ra trường đúng thời điểm kinh tế khó khăn, hầu hết các ngành đều cắt giảm nhân lực, rất nhiều tân cử nhân đành tạm cất bằng đại học, đi làm công nhân kiếm tiền trang trải cuộc sống hàng ngày.
Mỏi mòn chờ việc

Tốt nghiệp chuyên ngành Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Lê Thị Nga hào hứng làm cả chục bộ hồ sơ rồi đi “rải” khắp các công ty tuyển dụng. Ban đầu cô tân cử nhân còn “kén cá chọn canh”, chỉ tìm những nơi đúng chuyên ngành để đầu quân.

Nhưng số nơi tuyển rất ít, những hồ sơ đi mà chẳng có hồi âm, những cuộc phỏng vấn chẳng mấy nhiệt tình của nhà tuyển dụng. Sau vài tháng mòn mỏi chờ đợi thì việc gì Nga cũng nộp hồ sơ, miễn là thấy mình có khả năng đáp ứng, nhưng tình hình cũng không hề cải thiện.

Nga cho biết, cùng lớp đại học với em có 80 bạn đã ra trường, nhưng số người có công việc tạm ổn chỉ chiếm khoảng 10%. Một số bạn đi học lên cao học, còn đa số phải làm đủ việc linh tinh trái sở trường hoặc vẫn đang chờ việc.

Giống như Nga, Nguyễn Thị Hạnh, sinh viên trường Đại học Công đoàn cũng đang sốt ruột vì chưa tìm được việc. Tốt nghiệp từ tháng 6/2012, Hạnh đã mang hồ sơ đi khắp nơi, nộp trực tiếp có, qua thư điện tử có, nhưng đều chưa kết quả.

“Ra trường mà không có việc để làm, trong khi vẫn phải chi tiêu tiền thuê nhà, tiền ăn uống nên áp lực tâm lý rất nặng nề. Nhiều khi em ngại chẳng dám ra khỏi phòng trọ vì sợ mọi người nhìn thấy lại hỏi: Chưa đi làm à?” Hạnh buồn rầu nói.

Cùng chung cảnh ngộ, những ngày tháng này đang rất căng thẳng với Ninh, sinh viên trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Từng là một sinh viên giỏi, luôn dẫn đầu lớp Chăn nuôi thú y nhưng ra trường đúng lúc mọi ngành đều cắt giảm nhân lực nên dù có thành tích học tập rất tốt, Ninh cũng vẫn chưa tìm được nơi để “dụng võ”.

Về quê làm công nhân

Sau vài tháng chờ việc ở Hà Nội, Nga quyết định về quê Vĩnh Phúc, làm công nhân cho một công ty điện tử, chuyên làm màn hình điện thoại.

“Mức lương là hơn 4 triệu đồng một tháng, ăn luôn ở công ty ngày 2 bữa, nhưng em phải làm việc đến 12 giờ đồng hồ mỗi này,” Nga chia sẻ.

Thời gian làm việc của Nga bắt đầu từ 7 giờ 30 phút đến 19 giờ 30 phút. Buổi trưa chỉ được nghỉ 1 tiếng để ăn, giờ ăn buổi chiều thậm chí có 30 phút. Không quen ăn nhanh nên hầu như ăn xong, Nga chỉ kịp chạy vào thay đồ rồi lại ra làm tiếp, không được nghỉ ngơi.

Giống như Nga, rời giảng đường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cô bạn cùng lớp tên Nguyệt cũng về quê Bắc Ninh làm công nhân cho một công ty điện tử chuyên sản xuất tai nghe.

Công việc tuy vất vả nhưng Nguyệt cho biết, em đã quá chán ngán với việc nộp hồ sơ và phỏng vấn, chán ngán với những ngày dài chờ đợi đầy mệt mỏi nên tạm thời, Nguyệt chấp nhận làm công nhân như bao lao động phổ thông bình thường chẳng cần bằng cấp.

Cũng ra trường từ tháng 6/2012, nhưng công việc hiện tại của Trang, tân cử nhân khoa Kinh tế, trường Đại học Lâm Nghiệp Hà Nội là công nhân may cho một công ty ở thành phố Thái Bình.

Trang ngậm ngùi nói: “Thời đỗ vào khoa kinh tế, cứ nghĩ ra trường sẽ thuận lợi, nhưng tìm được công việc đúng chuyên ngành bây giờ quá khó. Không thể cứ ăn bám bố mẹ mãi nên em đi làm may như một cách ‘chống cháy’.

Còn với Dung, tân cử nhân khoa Kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp, công việc “chống cháy” hiện tại là làm nhân viên bán cửa hàng quần áo cho một hiệu nhỏ trên phố Cầu Giấy (Hà Nội). Ra trường với tấm bằng khá, nhưng đi đến đâu cô cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu.

Dung bảo: “Từ giờ đến cuối năm chắc chẳng mấy nơi tuyển nhân lực nữa. Em cố gắng làm ở đây đến Tết. Hy vọng sang năm mới mọi thứ sẽ sáng sủa hơn.”

Theo Vietnam+

Bằng cử nhân bị… xếp xó ?

Bằng cử nhân bị… xếp xó, vì đâu?

Hàng trăm độc giả đã gửi bình luận sau khi đọc bài viết “Những tấm bằng bị … xếp xó” trên báo điện tử Dân trí. Các ý kiến của độc giả đã phần nào chỉ ra các lý do tại sao các sinh viên khó kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp đại học?

Hậu quả của việc “thừa thầy” nhưng “thiếu thợ”

Lý giải về nguyên nhân sinh viên tốt nghiệp đại học khó kiếm việc, nhiều độc giả cho rằng đây là hậu quả của việc “thừa thầy” nhưng “thiếu thợ”.

“Có bao nhiêu học sinh PTTH trước khi rời khỏi mái trường cấp 3 mơ ước trưởng thành từ những nghề lao động chân tay?” – Người gửi: Nguyễn Sỹ Thanh, email: thanhthanhsy@gmail.com

“Không có gì lạ ở xã hội nhiều “thầy” ít “thợ”. – Người gửi: Trần Anh, email: thaianhohe@gmail.com

Sinh viên khối Ngân hàng và kinh tế tham dự một hội chợ việc làm tại Hà Nội.
Sinh viên khối Ngân hàng và kinh tế tham dự một hội chợ việc làm tại Hà Nội.

“Tình hình thất nghiệp hiện nay chỉ chủ yếu nhắm vào khối Kinh tế là chính, còn khối Kỹ thuật thì tôi có thấy mấy ai thất nghiệp đâu, mà các trường nghề hiện giờ có mời thì họ cũng chẳng muốn vào học, ai cũng muốn làm “quan” cả, chẳng ai chịu làm “dân” thì hỏi sao chẳng thất nghiệp nhiều.” – Người gửi: Vũ Ngọc Doanh, email: doanh0910@gmail.com

“Bây giờ thất nghiệp là bình thường do kinh tế thế giới suy thoái chung. Năm nay, ở Việt Nam có rất nhiều doanh nghiệp phá sản, người ta còn phải giảm nhân sự. Phải cố thôi.” – Người gửi: Phương, email: thienlong9d@gmail.com
“Tôi thấy cũng thấy chẳng có nói bạn nào học công nhân học nghề, trung cấp ra thất nghiệp nhỉ. Chắc mọi người quá ảo vọng vào tấm bằng đại học nên mới vậy.” – Người gửi: Le Hung, email: lehunginco2008@yahoo.com.vn

“Các bạn đừng mơ học những ngành nhàn mà lại khó xin việc, bạn cứ học như Cơ khí, Điện, CNTT Phần cứng mạng xem, bạn xin việc dễ cực, thu nhập lương cũng khá, các công ty doanh nghiệp tuyển rất nhiều” – Người gửi: Ninh Dũng, email: dungmytom@gmail.com

“Xem ra các bạn trẻ nên nhìn nhận lại việc chọn nghề chứ không nên tìm mọi cách để vào đại học. Quan trọng là nghề nào phù hợp và có thể kiếm cơm được dể dàng”. – Người gửi: Lê Hùng, email: Robertanunda@gmail.com

Thiếu kinh nghiệm

“Đó là vì các công ty hiện nay đều tuyển nhân viên có kinh nghiệm ít nhất 2 năm. Thử hỏi SV mới ra trường thì làm sao có kinh nghiệm?” – Người gửi: Tran Hung, email: tranhungmm@gmail.com

“Hầu như khi đi xin việc làm, nhà tuyển dụng đều yêu cầu có kinh nghiệm, nhưng đối với những sinh viên mới ra trường như mình lấy đâu kinh nghiệm ra để đáp ứng được yêu cầu đó?” – Người gửi: Lam, email: cobe_digan2005@yahoo.com

“Sinh viên ra trường bằng Khá, Giỏi nhưng thiếu kỹ năng làm việc. Các công ty bây giờ họ cần kỹ năng làm việc hơn là học vấn chuyên môn”. – Người gửi: Trần Anh Tuấn, email: tuan.tran.qa@gmail.com

“Nếu các bạn không tiếp xúc công việc từ khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường thì khi ra trường đi làm, kỹ năng làm việc chỉ là con số 0. Doanh nghiệp bây giờ cần người làm được việc chứ không chỉ cần tấm bằng.” – Người gửi: Hung, email: hungnguyen_vn83@yahoo.com.vn

Cử nhân cứ “bám riết” thành phố!

“Việc làm quá trời mà, hiện giờ cần nhiều lao động lắm, các công ty đang thiếu lao động mà. Các bạn đừng suy nghĩ mình học ông này bà nọ rồi tự cao, đòi hỏi công việc này công việc nọ, ai ai cũng muốn bám lấy các thành phố lớn như TPHCM, Hà Nội… để làm gì? Các tỉnh vùng sâu vùng xa, hải đảo… hoặc các khu công nghiệp ở Bình Dương… đang rất cần nhân lực để làm việc, cứ chi phải vào thành phố lớn. Còn về lương thấp không quan trọng, đủ ăn sống qua ngày là được rồi, 1 tháng thu nhập 2 triệu đồng là tạm được, đủ ăn không thể chết đói rồi, không cần đòi hỏi nhiều, vì hiện giờ còn nhiều người có thu nhập rất thấp, thậm chí không đủ ăn.

…Việc bằng cấp học xong mà lỡ có không sử dụng được thì cũng không sao, để đó làm kỉ niệm, mình cứ xem như cha mẹ cho tiền ăn học là để mình nâng cao trình độ, hiểu biết, mở mang trí óc với mọi người, chúng ta xếp bằng lại để đi làm công nhân phụ hồ, bán hàng… cũng được, làm bất cứ việc gì có thể kiếm ra tiền để nuôi cái bụng miễn là việc làm đó được pháp luật cho phép. Điển hình như mình đây nè, mình tốt nghiệp đại học nhưng mình xin việc chưa được nên mình chọn nghề phụ hồ kiếm sống, thu nhập cũng khá phết các bạn, 1 ngày ăn uống xong mình cũng để dành được 20 ngàn lận, nên mình rất hạnh phúc. Chúc các bạn cũng hạnh phúc”. – Người gửi: Công nhân phụ hồ, email: shs@yahoo.com

“Mỗi người đều có may mắn riêng, mình là sinh viên của 1 trường Cao đẳng tại Nam Định, khi còn đi học mình và mọi người đều chán nản nghĩ rằng trường không có danh tiếng mà với tấm bằng cđ quản trị kinh doanh thì sao cạnh tranh được với các bạn khác, ra trường thì làm gì, nhưng mình rất may mắn khi đã xin đc việc ngay khi ra trường. Kỹ năng xin việc cũng rất quan trọng các bạn ạ, không phải thể hiện ở trình độ chuyên môn của mình, mà phải thể hiện mình rất thiện chí khi ứng tuyển vào công việc đó. Chúc các bạn may mắn nhé.” – Người gửi: Thuy Lan, email: thuylan1507@gmail.com
“Vì sao học xong không trở lại quê hương để góp sức xây dựng quê nhà mà cứ bám lấy thành phố để kêu ca than vãn cho nó khổ. Đúng một vòng luẩn quẩn” – Người gửi: email: anhhungcuunet888@yahoo.com.vn

Khó kiếm việc nhưng vẫn kén chọn

Nhiều khi sinh viên thất nghiệp là xuất phát từ chính bản thân họ, có những sinh viên quá kén chọn, nên muốn không nộp đơn xin vào công ty nhỏ.

Như lời bình luận của bạn đọc dưới đây:

“Mình thì thấy là có một số bạn đòi hỏi quá cao hay các bạn ấy cứ nhìn đi đâu ấy. Chồng mình có một công ty nhỏ, tuyển người mãi mà không được chỉ vì tên công ty không nổi hay công ty nhỏ quá. Có bạn còn nói luôn là: chấp nhận làm cho công ty danh tiếng với mức lương thấp hơn bên mình (kể cả không đúng chuyên ngành nữa)” – Người gửi: Dao Thuy Huong, email: daothuyhuong@gmail.com

“Dù học đại học hay không, mục đích cuối cùng vẫn là kiếm tiền và hạnh phúc gia đình,các bạn nên nghĩ thoáng ra một chút nữa, có bằng đại học là rất tốt, nhưng chỉ dựa vào mỗi bằng đại học thôi thì chưa đủ. Các bạn cần trau dồi thêm kĩ năng kinh nghiệm của cuộc sống, hãy làm tất cả những việc các bạn có thể làm, mình tin các bạn sẽ sớm có chỗ đứng nếu hội tụ được những yếu tố đó. Chúc các bạn thành công” – Người gửi: Khánh Nam, email: khanhnam183@gmail.com

“Tôi rất đồng tình với các bạn về công việc và học tập hiện nay, tôi hiện là người quản lý lao động ở 1 đơn vị có 1 số quan điểm : 1. Chúng ta đều biết phương pháp đào tạo ở VN có một số vấn đề, song không thể đổ hết cho giáo dục, vấn đề cũng rất quan trọng đó là các bạn sinh viên đã tận dụng được thời gian học ở giảng đường chưa? Đã tranh thủ trau dồi thêm kiến thức cho mình chưa? Sinh viên ra trường có bao nhiêu người thành thạo 1 ngoại ngữ? Chúng ta chỉ biết đổ lỗi cho chất lượng giáo dục, cho các đơn vị không sử dụng các bạn, chúng ta đã xem lại mình chưa? Tôi được biết rất nhiều sinh viên ra trường không nói được 1 ngoại ngữ nào cả. 2. Vấn đề sinh viên ra trường các bạn thường cho rằng với tấm bằng đại học là phải làm đúng ngành, đúng nghề, một bộ phận sinh viên mới đi làm không chịu khó học hỏi kinh nghiệm làm việc của người đi trước, thụ động, khả năng làm việc nhóm rất kém. Các vấn đề nên được nhìn nhận hai chiều và khách quan.” – Người gửi: Vu Bien, email: bien305@hotmail.com

Những tấm bằng bị … xếp xó

Những tấm bằng bị … xếp xó

Ra trường đi làm công nhân may mặc và hiện giờ T. vừa xin được vị trí… đứng bán nước yến với mức lương 2 triệu đồng. Với những công việc đó, hơn hai năm nay T. chẳng có cơ hội dùng đến tấm bằng tốt nghiệp Đại học loại Khá của mình.

Tốt nghiệp loại Khá một trường đại học thuộc khối Kinh tế ở TPHCM) năm 2010, T. không nghĩ tìm một công việc thích hợp lại khó đến mức vậy. Thời gian đầu, cũng như nhiều cử nhân khác, T. tìm xin những công việc, vị trí theo chuyên ngành học của mình. Chờ mãi không có có kết quả, T. phải đối diện với thực tế cần tiền để nuôi sống bản thân vì không thể ra trường mà cứ ngửa tay xin tiền bố mẹ nên cô đành nới rộng diện tìm việc. Không chỉ tìm việc trái ngành mà T chỉ thấy cơ hội khi “hạ chuẩn” ở những việc… chẳng cần đến bằng ĐH.

Để giải quyết vấn đề trước mắt, T theo người quen xin vào làm công nhân may mặc ở Đồng Nai với mức lương chỉ hơn 2 triệu đồng. Mới đây, cũng với mức lương đó, T trở lại TPHCM làm nhân viên đứng bán nước yến cho một cửa hàng.

Ra trường đã lâu không phụ giúp được gia đình mà còn không lo nổi cho bản thân chứ chưa nói đến có công việc như chuyên môn và mong muốn, T. trở nên thu mình. Cô thấy sợ mỗi khi bố mẹ hỏi han về công việc, còn với bạn bè cô cũng rất ngại giao lưu, tiếp xúc.

Học cùng trường với T., ra trường thời gian dài mà không xin được việc, Ng. đành chấp nhận làm “chân chạy” cho một công ty bán bảo hiểm xe máy. Công việc của Ng. là tiếp cận các bãi gửi xe máy ở khắp thành phố để… rải tờ rơi và mời mọc khách hàng với mức lương 2,2 triệu đồng. Công việc này Ng. làm cùng SV làm thêm, lao động phổ thông nên tấm bằng loại Khá của cô chỉ nằm xếp xó chẳng có giá trị gì.

Để bám trụ ở thành phố, sau cả ngày “chạy bạc mặt” ngoài đường, Ng. đi gia sư nguyên tuần kiếm thêm thu nhập không chỉ để lo trang trải cuộc sống hàng ngày mà còn tích cóp để gửi về phụ giúp bố mẹ.

Trước đây, nếu SV tốt nghiệp ở các trường có tiếng thì không quá khó để tìm công việc phù hợp thì một hai năm trở lại đây, họ cũng phải xoay xở tìm đến những công việc “ngoài nghề” hoặc làm những công việc tự do để chờ đợi cơ hội.

Giấu cha mẹ đi bốc vác, bán hàng đa cấp

Tại xưởng hàng ở Lâm Đồng với hàng chục công nhân lao động phổ thông làm việc, không ai nghĩ “Tình bốc vác” quê ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An có “vốn dắt lưng” lại có tấm bằng Cử nhân khoa Văn. Nhưng giờ cậu đang đi làm và nhận mức lương cùng những người chỉ học hết cấp 1, cấp hai, thậm chí có người không biết chữ.

Tình buồn bã cho biết để có tiền cho con theo học, bố mẹ cậu phải vay mượn tiền ngân hàng. Khi ra trường cậu chỉ mong tìm được nơi dạy học nhưng xin nhiều lần không có kết quả, Tình chẳng còn muốn hy vọng nên phải tìm việc để kiếm sống và lo trả nợ.

“Chỉ dựa vào năng lực mà không có quen biết thì rất khó xin đi dạy. Muốn về quê thì phải có tiền, quê em SV Sư phạm ra trường muốn đi dạy phải mất cả trăm triệu, nhiều gia đình lo được cho con nhưng nhà em thì không thể”, Tình nói.

Tốt nghiệp ĐH nhưng nhiều SV ra trường không tìm được công việc đúng chuyên ngành.
Tốt nghiệp đại học nhưng nhiều SV ra trường không tìm được công việc đúng chuyên ngành.

Sợ bố mẹ buồn, Tình giấu việc mình đi bốc vác mà dối mình đang hợp đồng đi dạy. Hàng ngày cậu phải chi tiêu vô cùng tằn tiện, gần như không tiêu gì ngoài ngày ba bữa cơm ăn ăn chắc bụng để làm việc còn để góp tiền về cho bố mẹ trả nợ.

Chàng trai trẻ bi quan đến nỗi tự trách mình đã… quyết tâm vào ĐH bằng được. “Học xong đại học cũng đi bốc vác. Giá như hồi đó em kiếm việc làm luôn thì giờ đã ổn định hơn mà gia đình không vướng vào nợ nần”.

Ra trường 3 năm chưa tìm được việc đúng chuyên ngành nên Đức (yêu cầu đổi tên), tốt nghiệp ĐH tại TPHCM, trải qua rất nhiều việc như bảo vệ, gia sư, giao hàng… Quá mệt mỏi, Đức chẳng còn muốn nghĩ đến những hoài bão theo đuổi công việc mình yêu thích và đã theo học mà lái mục tiêu sang việc kiếm tiền để sống.

Hơn nửa năm nay, được bạn bè rủ rê, cậu tham gia vào việc bán hàng đa cấp về sản phẩm dược, chuyên đi tìm cách chèo kéo người tham gia để trích hoa hồng. Đức cũng cho biết, rất nhiều cử nhân ra trường vì không xin được việc đúng chuyên ngành nên đành tham gia việc bán hàng đa cấp.

“Ở nhà bố mẹ không biết về công việc của em, họ vẫn tưởng em đang làm việc ở một công ty xây dựng. SV ra trường mà không xin được việc phải gánh rất nhiều áp lực, không chỉ để kiếm sống mà tâm lý cũng rất nặng nề”, Đức nói.

Nếu như trước đây, cử nhân khó kiếm việc chủ yếu tập trung ở một số ngành nghề thì hiện nay tình trạng này trải dài ở các nghề, ngay các nghề được xem là luôn “nóng” như ngân hàng, tài chính, kế toán – kiểm toán… Và ngay nhiều SV tốt nghiệp ở những trường có tiếng cũng chật vật xin việc. Nhiều người phải đi bán hàng ở siêu thị, phát tờ rơi, làm gia sư… Tại các khu công nghiệp ở TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai ngày càng dễ bắt gặp những công nhân là… cử nhân.

Không thể phủ nhận suy thoái kinh tế là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến cơ hội việc làm với tất cả mọi đối tượng, trong đó có cả SV tốt nghiệp ĐH. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng các yếu tố mang tính chủ quan như việc đào tạo từ nhà trường còn quá “vênh” so với nhu cầu xã hội, SV ra trường quá yếu kỹ năng… góp phần cho những chiếc bằng tốt nghiệp ĐH mà SV chật vật theo học sau nhiều năm nhưng lại không sử dụng đến.

“Tổng số SV sau khi được đào tạo thì chỉ có 50% là có việc phù hợp với năng lực và phát triển tốt, còn lại làm trái ngành và thu nhập thấp. Hai lý do cơ bản dân đến tình trạng này là do có ít chỗ làm việc hơn nhu cầu tìm việc làm phù ngành nghề đã được đào tạo và số lượng việc làm nhiều nhưng người tìm việc không đáp ứng được trình độ hoặc không mong muốn làm công việc đó. Như vậy, nguyên nhân thất nghiệp cốt lõi nằm vấn đề đào tạo nghề, dự báo cung cầu, phân bổ nguồn nhân lực và các chính sách thu hút, sử dụng lao động còn mất cân đối”. – Ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM.
(Còn tiếp)

Hoài Nam

Doanh nghiệp “nản” với kỹ năng của SV tốt nghiệp

Doanh nghiệp “nản” với kỹ năng của SV tốt nghiệp

Không phải về chuyên môn hay đòi hỏi sinh viên mới tốt nghiệp phải có kinh nghiệm làm việc mà vấn đề các nhà tuyển dụng “oải” lại là các kỹ năng và thái độ của cử nhân.

Bức xúc vì kỹ năng của sinh viên

Nhiều nhà tuyển dụng cho rằng, đối với sinh viên (SV) vừa ra trường, họ đòi hỏi không cao về kinh nghiệm làm việc. Yêu cầu lớn nhất là ứng viên phải có các kỹ năng cơ bản để vào làm việc và hòa nhập với văn hóa ở doanh nghiệp thì SV lại rất yếu.

Qua hàng ngàn nhân viên kỹ thuật làm việc tại công ty, ông Trần Thanh Liên – Tổng công ty Điện lực TPHCM đánh giá đối với SV kỹ thuật khi ra trường tay nghề rất ổn, kiến thức nền vững và không khó để làm quen với công việc.
Thế nhưng, lợi thế này lại bị cản trở bởi “điểm trừ” của SV tốt nghiệp là yếu nhiều kỹ năng cơ bản, đặc biệt là khả năng ngoại ngữ và làm việc nhóm.

Nhiều doanh nghiệp phàn nàn về kỹ năng và thái độ làm việc của SV tốt nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp phàn nàn về kỹ năng và thái độ làm việc của SV tốt nghiệp.
“Trình độ ngoại ngữ chung hiện nay là các bạn có thể đọc, viết nhưng không nói và trao đổi được. Công ty có nhiều chương trình, hội thảo ở nước ngoài nhưng rất khó trong việc tìm người đi tham dự vì yếu kém ngoại ngữ.

Ngoài ra, các bạn làm việc cá nhân rất tốt nhưng làm việc nhóm lại không đạt hiệu quả. Thường những bất đồng ý kiến trong công việc không giải quyết được”, ông Liên cho hay.

Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – đại diện Công ty Hùng Hậu đánh giá SV hiện nay được đào tạo chuyên môn bài bản hơn nhưng lại quá mang tính tổng quát, thiếu kiến thức chuyên ngành. Hơn nữa ngược lại với điểm tích cực là năng động thì khả năng ứng xử và hòa nhập, thích nghi với văn hóa công ty của SV còn rất hạn chế.

Nhiều nhà tuyển dụng chia sẻ, họ gặp không ít ứng viên tốt nghiệp từ các trường ĐH có tiếng, bằng rất đẹp, kiến thức chuyên môn cũng rất ổn, có rất nhiều chứng chỉ đi kèm… mà vẫn bị loại vì các kỹ năng quá kém.

Không chỉ các kỹ năng liên quan đến công việc mà các kỹ năng về ứng xử, giao tiếp và thái độ sống của SV cũng bị nhiều DN (doanh nghiệp) than phiền. SV thường bộc lộ sự nóng vội, muốn thấy được kết quả nhanh nên thiếu sự tích cực trong việc tiếp thu, lắng nghe cũng như thiếu sự cam kết gắn bó lâu dài với công việc.

DN trong nước đã vậy, các công ty, tập đoàn nước ngoài với các yêu cầu cao hơn thì lời than phiền về SV còn nhiều “nặng” hơn về ngoại ngữ, làm việc nhóm, tính kỷ luật, tinh thần chịu trách nhiệm, bày tỏ ý kiến… Thậm chí, có những DN nước ngoài còn dùng từ bất mãn với các cử nhân ĐH của Việt Nam vì những hạn chế đó dễ dẫn đến những hậu quả tệ hại cho công việc.

Điều này ám ảnh các DN nước ngoài đến đến mức trong nhiều hội thảo về nguồn nhân lực, không ít doanh nhân ngoại quốc đã xin lỗi trước khi đưa ra nhận xét về SV Việt Nam vì “khi chúng tôi nói ra những lời góp ý chân thành này các bạn sẽ giận và bị tổn thương”.
Ông H.EAndrej Motyl – đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam chia sẻ ông nghe nhiều DN Việt Nam và các công ty nước ngoài khen ngợi SV Việt Nam rất chịu khó, có hoài bão nhưng cũng bức xúc sau khi tốt nghiệp ĐH, SV lại không các kỹ năng cần thiết mà nhà tuyển dụng cần.

Thiếu nhưng khó tuyển người

Không thể phủ nhận khó khăn về kinh tế, nhiều DN đóng cửa, cắt giảm lao động ảnh hưởng đến quá trình xin việc cử nhân ra trường. Theo phân tích của Trung tâm Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và Thông tin thị trường lao động TPHCM, nhu cầu nhân lực năm 2012 giảm 2,9% so với năm 2011.

Chỉ số nhu cầu tìm việc làm tại TPHCM liên tục tăng qua các quý, trong đó SV tốt nghiệp CĐ, ĐH và trên đại học chiếm tỉ lệ rất cao. Một số ngành nghề rất vất vả trong quá trình xin việc theo thứ tự như kế toán, nhân sự hành chính, nhân viên kinh doanh – marketing, quản lý điều hành… Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng những ngành này ở DN vẫn nhiều nhưng không tuyển được người.

Ông Phạm Minh Tuấn – Giám đốc Tuyển dụng và phát triển nhân sự Tập đoàn Tân Hiệp Phát cho rằng, kiến thức ở trường học chỉ chiếm 40% khả năng thành công khi đi xin việc mà DN còn cần các tiêu chuẩn như năng lực làm việc chủ động, tốc độ làm việc, làm việc nhóm, giao tiếp, tư duy sáng tạo…

Ông kể, khi công ty có nhu cầu tuyển dụng, ông chọn 200 SV đến từ một trường ĐH nhưng chỉ tuyển được 40 SV. Trong đó chỉ 10 SV đáp ứng được khoảng 60% công việc.
Trong năm 2012, nguồn nhân lực trong ngành cơ khí ở TPHCM chỉ đáp ứng được 50% so với nhu cầu tuyển dụng. Các doanh nghiệpN luôn tuyển không đủ người cho dù đã đặt hàng đào tạo và không yêu cầu quá cao về tay nghề. Hay công nghệ thông tin nhu cầu tuyển dụng tăng mạnh (trên 66% so với năm 2011) nhưng nguồn nhân lực chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu.
TS Dương Tấn Hiệp – Phó hiệu trưởng ĐH Kinh tế Tài chính TPHCM cho rằng kinh tế khó khăn, bên cạnh việc sa thải nhân viên thì DN vẫn có nhu cầu tuyển dụng với yêu cầu đòi hỏi về chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, DN luôn khó trong việc tuyển người.

“Việc đào tạo ở trường học hiện nay chủ yếu vẫn chú trọng vào kiến thức nên SV ra trường thiếu kỹ năng. Ngoài ra, một trong những vấn đề mà DN hiện nay rất quan tâm là thái độ sống, cách ứng xử của người lao động thì SV còn yếu vì các em thiếu va chạm thực tế”, ông Hiệp nói.

Nhiều ý kiến cho rằng, SV ngày nay dù đã năng động hơn rất nhiều nhưng những năm ở đại học vẫn rất bị động, thiếu va chạm với thực tế mà thường bắt đầu khi ra trường mới “bơi”.

Ông Masaki Yamashita – Tổng giám đốc ngân hàng Mitsibishi UFN Việt Nam cho hay kiến thức chuyên ngành của lao động Việt Nam rất tốt, rất rộng nhưng lại khó chuyển giao kiến thức đó thành kỹ năng làm việc, không ứng dụng được vào thực tế.

“Một trong những vấn đề mà tôi cảm thấy là SV Việt Nam rất nhiều những trải nghiệm thực tế khi đi học. Các bạn nên tham gia vào các CLB học thuật hay thể thao, các hoạt động xã hội nhiều hơn nữa để qua đó trau dồi cho mình những kỹ năng thì khi đi làm các bạn sẽ thuận lợi hơn”, doanh nhân người Nhật nói.

Những năm gần đây trường ĐH và DN đã có những gắn kết để thực hiện đào tạo theo nhu cầu xã hội, tuy nhiên sự hợp tác này chưa thật sự phát huy hết hiệu quả. Nhưng theo nhiều chuyên gia, trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì vai trò chủ động, nỗ lực của chính người lao động vẫn là yếu tố cốt lõi, đặc biệt trong tình hình khó kiếm việc làm như thời điểm hiện nay thì điều này càng cần thiết.

“Hiện nay nhiều SV chủ động hơn trong kiếm việc làm nhưng chỉ với những bạn có định hướng công việc cho mình từ sớm. Họ chủ động một cách có kiểm soát, khi bắt đầu từ năm 2, năm 3, các bạn đã đi làm thêm theo ngành nghề mình yêu thích để tích lũy kinh nghiệm và trau dồi kỹ năng chứ không ngồi học nhẵn suốt 4 năm rồi mới đi xin việc.

Tuy nhiên số SV này theo em không lớn, chỉ khoảng 30% còn nữa thì SV vẫn rất thụ động do họ không tìm được định hướng cho mình. Nhiều SV học và ra trường mà vẫn không biết mình sẽ làm gì nên rơi vào bế tắc. Đây là kết quả của vấn đề hướng nghiệp và xác định ngành đam mê sở thích khi đăng ký thi ĐH” – Nguyễn Hữu Anh, cựu SV Trường ĐH Ngoại thương TPHCM.

“Để SV đáp ứng được nhu cầu xã hội, cần đẩy mạnh sự trao đổi mật thiết hơn giữa nhà trường và DN. Hiện nay trường học đã lồng ghép rất nhiều các kỹ năng thông qua việc học, đẩy mạnh thực hành xã hội cho SV, còn DN tạo điều kiện cho SV thực tập, tham quan, tổ chức các hội chợ việc làm điều này rất có ích cho SV. Tuy nhiên, DN thường chỉ mới hướng đến SV năm cuối sắp ra trường còn SV năm nhất, năm 2 đang học đại cương lại rất ít cơ hội. Cần nhiều chương trình, hoạt động tương tác thực tế đến cho SV vừa ĐH để các bạn có định hướng sớm hơn” – Võ Trần Vi Khanh, SV năm cuối Trường ĐH Bách khoa TPHCM.

Hoài Nam

Sinh viên bị doanh nghiệp “chê”, nhà trường nói gì?

Sinh viên bị doanh nghiệp “chê”, nhà trường nói gì?

Doanh nghiệp chê sinh viên tốt nghiệp ra trường yếu, không đáp ứng được yêu cầu công việc. Còn trường đại học cho rằng trường học chỉ cung cấp các kiến thức nền tảng, cơ bản chứ không thể đáp ứng mọi yêu cầu của doanh nghiệp.

Những năm gần đây, các trường đại học (ĐH) và doanh nghiệp (DN) đã có nhiều hoạt động “bắt tay” để thực hiện mục tiêu đào tạo theo gắn liền với nhu cầu thực tế. Nhưng sự kết hợp giữa bên đào tạo và bên sử dụng gặp không ít khó khăn vì bên nào cũng có lý của riêng mình nên nguồn nhân lực vẫn chưa thoát khỏi tình trạng “thừa” lại vừa “thiếu”. Nhất là trong tình hình kinh tế khó khăn, “độ vênh” càng lộ rõ khi nhiều sinh viên (SV) tốt nghiệp, kể cả bằng Khá, Giỏi vẫn không xin được việc hoặc chấp nhận làm những việc không hề liên quan đến ngành nghề được đào tạo.
Trường ĐH và doanh nghiệp: Bắt tay nhưng khó chặt
Trường học ngày càng có nhiều chương trình hợp tác với doanh nghiệp nhằm gắn kết đào tạo theo nhu cầu xã hội.

DN chê SV tốt nghiệp ra trường yếu, không đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế, thậm chí nhiều DN bất mãn với kỹ năng của nguồn nhân lực có lẽ là điều mà lãnh đạo trường ĐH nào cũng nghe, cũng biết. Họ lắng nghe ý kiến của DN là “hãy đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu thực tiễn” nhưng nhiều ý kiến cho rằng việc đào tạo ở giảng đường không thể chạy theo và đáp ứng được mọi yêu cầu của DN.

TS Lê Hữu Phước – phó hiệu trưởng Trường ĐH KHXH & NV TPHCM cho hay không nên đòi hỏi SV tốt nghiệp phải đáp ứng 100% yêu cầu của nhà tuyển dụng vì điều đó là bất khả thi, ngay cả về mặt kiến thức, nhà trường không thể làm nổi “sứ mệnh” đó.

“Sau 4 năm đào tạo, SV mới chỉ được trang bị kiến thức mang tính nền tảng. Việc đào tạo lại, đào tạo tiếp cho lao động trong môi trường làm việc của mình là tất yếu, các nhà tuyển dụng nên chấp nhận điều này như một lẽ đương nhiên. Việc đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của SV đối với DN cần thỏa đáng hơn”, ông Phước bày tỏ.
Hiện nay nhiều SV tốt nghiệp ĐH rất khó xin việc làm
Hiện nay nhiều SV tốt nghiệp ĐH rất khó xin việc làm.

Trách nhiệm của trường học là đào tạo kiến cơ bản và kỹ năng cơ bản, tuy nhiên ông Phước cho rằng trường học cũng chưa xác định được kiến thức nào, kỹ năng nào là nền tảng. Đặc biệt là các trường tốp trên luôn chạy theo kiến thức hàn lâm, tinh hoa mà “bỏ quên” yêu cầu của thị trường.

“Theo tôi, đánh giá SV Việt Nam tốt nghiệp ĐH phải đào tạo lại là chưa chính xác. Đến môi trường mới nào cũng cần có sự chuẩn bị để thích nghi, thích ứng. Ngay trong một công ty, cùng lĩnh vực mà khi thay đổi vào vị trí khác, người lao động cũng đã cần có thời gian để thích ứng, làm quen. Vấn đề của SV Việt Nam là các bạn cần chủ động mang tính tích cực hơn nữa”. – Ông Rick Howarth, Tổng Giám đốc của Nhà máy Intel Products Việt Nam

Ông Trần Anh Tuấn – phó giám đốc thường trực Trung tâm dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và Thông tin thị tường lao động TPHCM nhìn nhận thực trạng trong thời buổi khó khăn, khan hiếm việc làm nhưng nhiều DN vẫn không tuyển được người làm vì họ đòi hỏi nguồn nhân lực cao.
Ông Tuấn cho rằng đòi hỏi trường ĐH đào tạo nhân lực phải đáp ứng mọi yêu cầu của DN là không thể vì mỗi doanh nghiệp có môi trường, bí quyết làm việc riêng, trường học không thể chạy theo… từng yêu cầu đó.

Đồng tình với ý kiến trên, TS Tân Hạnh – phó giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông TPHCM cho biết trường mình đào tạo ngành nghề mang tính đặc thù, thuộc Tập đoàn Bưu chính viễn thông nên trước đây SV ra trường là có việc ngay. Từ năm 2007, số lượng tuyển sinh đông không chỉ đáp ứng trong ngành mà hướng đến nhu cầu xã hội nên trường chủ động tiếp cận với doanh nghiệp để tiếp thị nguồn nhân lực của mình.

Theo ông Hạnh, SV yêu cầu nhà trường phải đào tạo sao cho đúng yêu cầu DN và DN đòi hỏi trường ĐH phải đáp ứng mọi yêu cầu của mình là thiếu thực tế. Vì trường ĐH có khung đào tạo chung chứ không phải muốn là có thể vượt qua được khung đào tạo đó.

Ông Trần Thanh Liên – Tổng công ty Điện lực TPHCM cho rằng phía việc kết hợp đào tạo giữa bên sử dụng và bên đạo tạo có nhiều tích cực nhưng còn nhiều kẽ hở. Cụ thể trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, trong quá trình đào tạo 4 năm ở trường khi SV tốt nghiệp đi làm thì công nghệ ngoài xã hội đã thay đổi rất nhiều, nhà trường theo không kịp.

“Nhà trường cần phối hợp với những nhà thầu tiên tiến, cung cấp các tài liệu kỹ thuật cho SV nghiên cứu và tiếp cận với các kỹ thuật mới nhất”, ông Liên nói.

Hiện nay nhiều SV tốt nghiệp ĐH rất khó xin việc làm
Nhà trường và doanh nghiệp cần gắn kết chặt hơn còn SV cần chủ động hơn nữa để cùng giải quyết bài toán nguồn nhân lực vừa thừa lại vừa thiếu.

Dù khẳng định SV không thể đáp ứng mọi yêu cầu của DN nhưng TS Lê Hữu Phước đồng tình rằng sự kết hợp giữa nhà trường cần thắt chặt, cụ thể hơn qua việc trao đổi thông tin. Các trường nên cung cấp thông tin về các sản phẩm đào tạo đã, đang và sắp có của mình cho thị trường. Còn phía tuyển dụng phải cho nhà trường biết về nhu cầu và yêu cầu đối với nhân sự.
Theo ông Phước, trong bối cảnh như hiện này mà yêu cầu SV làm đúng ngành là rất khó trừ một số ngành đặc thù. Thế nên không nên đòi hỏi đúng ngành mà nên chú ý đến việc đào tạo liên ngành.

“SV ngoài việc học chuyên nhành chính có thể chọn thêm những môn học để trang bị thêm kiến thức kỹ năng khác cho mình thì khả năng tìm việc sẽ cao hơn. Thay vì SV học bốn năm để lấy một bằng chuyên ngành thì có thể cho SV học 5 hoặc 6 năm để lấy bằng đôi, giảm thời gian phải học văn bằng hai”, TS Lê Hữu Phước đề xuất.

DN chỉ hỗ trợ, ngại trách nhiệm
Lâu nay chúng ta nghe rất nhiều về những lời chê về việc đào tạo chưa theo yêu cầu xã hội của trường ĐH, còn trách nhiệm của bên sử dụng nguồn nhân lực lại ít được đề cập. Trong khi, trong điều kiện như hiện nay DN có vai trò rất lớn trong việc hoàn thiện nguồn nhân lực, là môi trường để SV áp dụng các kiến thức ở nhà trường vào thực tế.

Sự kết hợp của các DN chủ yếu chỉ mang tính hỗ trợ, chưa gắn liền với trách nhiệm. Không ít DN khi tuyển người, ngay với SV vừa tốt nghiệp đã đòi hỏi phải có kinh nghiệm làm việc hay các kỹ năng nhỏ lẻ theo môi trường của mình. Họ chú trọng đến việc ứng viên phải đem lại hiệu quả ngay mà ngại “đầu tư” đến việc đào tạo thêm.

“Không một ai vừa tốt nghiệp mà có thể làm việc được ngay trong một môi trường mới. Theo tôi, để có nguồn nhân lực cao thì bên sử dụng cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ SV biến các kiến thức ở trường học có thể ứng dụng được vào thực tế”, đại diện công ty Hùng Hậu thẳng thắn.

Người này cho biết, công ty sẵn sàng nhận những SV năm cuối, SV ra trường trong lĩnh vực mình cần đến thực tập để đào tạo thêm. Qua đó sẽ giữ lại những ứng viên có năng lực và phù hợp.

Không ít DN cũng sẵn sàng như vậy nhưng khó khăn của họ chưa thể lập ra một bộ phận chuyên môn để hợp tác trong việc đào tạo với trường ĐH. Họ cũng không muốn mạo hiểm đầu tư thời gian, tiền bạc để đào tạo thêm vì ở góc độ kinh doanh hiển nhiên họ muốn tuyển người có thể làm việc ngay. Chưa kể lo ngại “cốc mò cò xơi”, người mới đi làm có chuyên môn, kinh nghiệm thì rất dễ nhảy việc.
Để có nguồn nhân lực cao, SV ra trường không rơi vào cảnh thất nghiệp hay làm trái ngành, nhà trường và DN phải có hợp tác chặt chẽ và mang tính trách nhiệm hơn. Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng nhà trường và DN chỉ mang tính chất là môi trường, điều quan trọng nhất là sự nỗ lực, cố gắng của chính SV. Họ phải biết chủ động trau dồi cho mình kiến thức, các kỹ năng, tinh thần tự học, thái độ làm việc hợp tác, tiếp cận với doanh nghiệp… thì kiến thức được học mới có thể đến sát với nhu cầu.

Hoài Nam

Cử nhân thực tập nghề… bê nước, pha trà

Cử nhân thực tập nghề… bê nước, pha trà

Thực tập là thời điểm bước đầu để sinh viên vận dụng những kiến thức đã học ở trường vào thực tế công việc. Thế nhưng không ít sinh viên lại được trải nghiệm làm nhân viên quét dọn, pha trà… trong kỳ thực tập của mình.

Ra trường hơn một năm nhưng đến giờ, Nguyễn Quốc Hoàng, cử nhân Kinh tế tốt nghiệp ĐH tại TPHCM (đề nghị không nêu tên trường) vẫn chưa hết ám ảnh về kỳ thực tập của mình. Xin vào thực tâp tại công ty con thuộc một tập đoàn kinh tế có tên tuổi hoành tráng, Hoàng rất háo hức và sẵn sàng để thể hiện năng lực của mình.

Ngày đầu tiên lên công ty, Hoàng có hàng loạt việc để làm do những nhân viên trong phòng giao. Nào là pha nước trà, quét dọn văn phòng, đổ rác, khi có khách đến thì Hoàng được chỉ ra ngoài… trông xe. Hoàng cứ tưởng chỉ vài ngày đầu làm quen nhưng cả tháng trôi qua vẫn từng đó việc cho cậu, việc tích cực nhất có thể kể đến là photo tài liệu. Chưa kể cậu liên tục bị các anh chị trong phòng nhờ chở đi gặp mặt khách nhưng đến nơi thì cậu phải đứng ngoài chờ hàng giờ đồng hồ…

Vô cùng chán nản nhưng Hoàng cố chịu, bề ngoài lúc nào cũng phải tỏ vẻ vui cười, chấp nhận cho qua kỳ thực tập vô bổ.

“Tôi rất háo hức với kỳ thực tập, cứ nghĩ mình sẽ làm được thật nhiều việc. Kết quả đạt được sau thời gian đó là tôi biết cách pha trà và một bảng nhận xét khả năng chuyên môn… xuất sắc từ công ty cho dù tôi không được làm bất cứ công ty gì liên quan đến chuyên môn”, Hoàng bức xúc.

Phan Hồng Hoa, SV trường CĐ B cũng choáng váng khi ngày đầu cô đến thực tập chị trưởng phòng còn nói với cô nhân viên dọn dẹp từ nay không phải dọn phòng này nữa vì có… Hoa làm. Thế là sáng nào Hoa cũng phải đến từ sớm lau dọn phòng, chuẩn bị nước nôi cho mọi người.

Hoa trở thành tay sai vặt khi mọi người mở miêng là gọi ngay tên cô: “Em Hoa bận gì không nhỉ?”. Khổ nhất với cô nữ sinh là trưa nào cũng được giao nhiệm vụ đi mua cơm hộp cho cả chục người trong phòng. Nhưng không phải anh chị nào cũng nhớ để trả lại tiền mà Hoa lại không dám hỏi…

Chưa kể, nhiều người con người còn liên tục nhờ Hoa mua nhiều thứ khi thì trái cây, sữa chua… Rồi việc riêng như khi đi mua sắm, đi bệnh viện, đón con… cũng có người cũng nhờ em SV thực tập “nhiệt tình” nên Hoa lúc nào cũng “âm” tiền. Vui nhất là có chị trong phòng thấy Hoa chăm chỉ, chịu khó còn đề nghị Hoa đến nhà trông cháu nhỏ giúp, chị sẽ trả lương làm Hoa phải tìm cách từ chối.

“Ba tháng ròng rã như vậy mình muốn xin nghỉ nhưng lại sợ động chạm tới mọi người, ảnh hưởng kỳ thực tập nên phải nhịn hết cho xong”, Hoa nói.

Xả láng trong kỳ thực tập

Việc chuyên môn không được tiếp xúc, có SV còn gặp cảnh oái oăm hơn vì đến cơ hội bê nước pha trà cũng không có… nếu doanh nghiệp đó không có nhu cầu. Họ mang tiếng là đi thực tập nhưng thời gian lại vô cùng rảnh rỗi khi chỉ lên công ty một vài buổi rồi sau đó nghe lời đề nghị… không phải lên, thích làm gì cứ làm cuối kỳ sẽ có số liệu cần thiết và nhận xét đầy đủ.

L. T. Hiền, SV Trường ĐH T kể về trường hợp của mình khi đi thực tập tại một công ty lớn, có đông SV từ các trường đến thực tập. Đến nơi, thấy cường độ làm việc của mọi người, Hiền thấy mình như người thừa, chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Công ty này đặt ở một tòa nhà lớn, mọi việc như thu dọn vệ sinh, nấu ăn đều có người phục vụ tại chỗ nên… SV có muốn bày tỏ sự chăm chỉ cũng không có cơ hội.

Được một tuần, chị quản lý nhân sự gọi Hiền và một số SV thực tập khác cho phép nghỉ, hàng ngày không phải lên công ty. Nếu cần cuối kỳ sẽ cho các bạn SV thực tập đứng tên trong các dự án của công ty… để nhận kết quả. Dù muốn dù không, cả nhóm SV thực tập đành dắt nhau ra về, 3 tháng sau quay lại xin thông tin làm báo cáo và lấy bản nhận xét.

Ng. H. Vũ, SV ngành kỹ thuật điện Trường Đ kể, cậu đi thực tập tại một công ty điện lực theo giới thiệu của nhà trường cùng 3 SV khác. Trước ngày thực tập, nhóm liên hệ lên gặp mặt thì người phụ trách cho biết, công ty ai cũng bận, không có thời gian để… tiếp đón SV, khi nào có việc sẽ liên hệ.

Chờ hoài không thấy ai liên lạc, Vũ lên tận nơi để gặp mặt thì… được giao việc ngồi kiểm tra khách ra vào văn phòng trong khi chuyên ngành của cậu là kỹ thuật điện. Được vài ngày, Vũ lại nghe yêu cầu không phải lên công ty nên sau đó cậu ôm đồ về quê gần 4 tháng trời mới quay trở lại.

“Nhiều bạn đi thực tập cùng mình còn không biết mặt mũi công ty thế nào cho đến thời gian cuối khi lên xin số liệu”, Vũ nói.

Nhiều SV cho rằng SV đi thực tập.. như đi chơi chủ yếu rơi vào những SV trước đó chưa có những trải nghiệm bằng những việc làm thêm họ hoàn toàn bị động khi đối diện với kỳ thực tập. Bên cạnh đó, nhiều SV chưa thật sự coi trọng kỳ thực tập, chỉ muốn hoàn thành cho xong.

TS. Lê Tấn Bửu – Trưởng khoa Thương mại – Du lịch – Marketing, Trường ĐH Kinh tế TPHCM cho hay, với nhiều SV, thực tập là lúc “xả hơi” vì thời điểm này không ai quản lý các bạn, nhà trường cũng không doanh nghiệp cũng không. Nhiều bạn không biết rằng đây là thời điểm quan trọng để thiết lập mối quan hệ, rèn luyện kỹ năng và ứng dụng các kiến thức mình đã học.

Ngoài ra, hiện nay chưa nhiều doanh nghiệp chú trọng đến việc đào tạo nhân lực ngay từ đội ngũ SV thực tập. Họ chưa tin tưởng ở SV, có nơi còn e ngại SV có thể làm xáo trộn công việc nên chỉ tiếp nhận SV đến thực tập về hình thức mà chưa tạo điều kiện cho SV va chạm thực tế.

Để tránh phải làm công việc như nhân viên vệ sinh, không dính dáng tới chuyên ngành trong quá trình thực tập, giám đốc một công ty đào tạo nhân sự chia sẻ, trước hết SV cần phải chủ động tìm hiểu về nơi mình sẽ thực tập và trước đó đã phải có nhiều lựa chọn từ nhiều công ty.SV cũng đừng chăm chăm xin vào các công ty lớn chỉ vì để có kết quả báo cáo “oai” mà không lường được khả năng của mình vì một số nơi quy trình làm việc chặt chẽ, SV chưa thể hiện được mình rất khó để người khác tin tưởng giao việc.

Ngoài ra, SV phải mạnh dạn trao đổi, thỏa thuận với người phụ trách về mong muốn, công việc mình sẽ làm với tinh thần khiêm tốn và học hỏi. Nếu thấy không khả quan thì nên xin chuyển chỗ thực tập để không lãng phí thời gian này.

Hoài Nam

Cử nhân không đói vì đã quá đói vì thất nghiệphất nghiệp vì không sợ đói?

Cử nhân đói dài vì thất nghiệp, hay thất nghiệp vì không sợ đói?

(Dân trí) – Khi tìm hiểu thực tế về tình trạng sinh viên đại học ra trường đói dài vì thất nghiệp tại Đà Nẵng, chúng tôi gặp một câu hỏi ngược: cử nhân đói dài vì thất nghiệp, hay thất nghiệp vì không sợ đói?

Cử nhân đói dài vì thất nghiệp, hay thất nghiệp vì không sợ đói?
Rất nhiều cử nhân vừa tốt nghiệp không thể tìm ngay được việc làm đúng trình độ bằng cấp, ngành nghề (ảnh minh họa)
Ngành thừa cứ thừa, ngành thiếu cứ thiếu

Có thể nói giải quyết việc làm cho đối tượng sinh viên tốt nghiệp mới ra trường là một bài toán khó. Nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ Đại học trở lên chiến tỷ lệ nhỏ trong tổng lượt nhu cầu lao động của các đơn vị tuyển dụng.

Theo thống kê của của ban Tổ chức Chợ việc làm Đà Nẵng (thuộc Sở Lao động – Thương binh – Xã hội thành phố), trong năm 2012, có gần 1.400 đơn vị tham gia sàn giao dịch việc làm được tổ chức định kỳ 2 phiên/tháng, với tổng lượt nhu cầu lao động cần tuyển là gần 54 nghìn. Trong đó, nhu cầu lao động có trình độ Đại học (ĐH) chỉ có hơn 1.000 lượt, tỷ lệ chỉ có 6%; nhu cầu lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo hơn 65%.

Mỗi năm, trên địa bàn thành phố, chỉ riêng ĐH Đà Nẵng đã đào tạo ra hàng chục nghìn cử nhân, cộng thêm các trường khác, các trường ngoài công lập, số này phải lên đến vài chục nghìn.

Mức chênh lệch giữa số cử nhân vừa tốt nghiệp so với nhu cầu tuyển dụng lao động ở trình độ này quá lớn, dẫn tới con số cử nhân ra trường không có việc đúng ngành, đúng trình độ chắc chắn khá đáng kể. Đó là chưa kể các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động có trình độ ĐH trở lên yêu cầu ứng viên phải có kinh nghiệm.

Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Văn An, Phó Giám đốc Sở lao động – Thương binh và Xã hội Đà Nẵng cho biết việc sinh viên ra trường không tìm được việc làm không đúng ngành, nghề thất nghiệp một phần do cán cân cung – cầu nguồn nhân lực chênh lệch. Có những ngành số lượng nhu cầu tuyển dụng ít so với lượng sinh viên ra trường mỗi năm và ngược lại.

Ví dụ như ngành Sư phạm, có khoảng 300 sinh viên ngành này tốt nghiệp ra trường, nhưng chỉ tiêu tuyển mới của ngành ở Đà Nẵng chỉ khoảng 15-20 người mỗi năm. Ngược lại, nhiều nơi cần công nhân kỹ thuật lành nghề, như nghề hàn, lương trả 8-10 triệu/tháng nhưng vẫn không tuyển được đủ người. Ngành thừa cứ thừa, ngành thiếu cứ thiếu.

Bằng cấp cao, xuất phát thấp chưa chắc là thất thế

Một thực tế nữa, theo ông An chia sẻ: có nhiều đơn vị tuyển dụng nhân lực có trình độ cao nhưng không tuyển được vì ứng viên có đủ bằng cấp nhưng lại không đạt yêu cầu về chất lượng nhân lực để qua được các vòng phỏng vấn, thử việc.

Thiếu kinh nghiệm, thiếu kỹ năng là một điểm trừ rất lớn đối với sinh viên mới tốt nghiệp khi tìm việc làm.Điều này, qua trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Pháo, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Đà Nẵng cho rằng có một phần nguyên nhân, nhưng không thể đổ lỗi hết cho các trường đào tạo. Tại sao cùng học trường đó, lớp đó, nhưng có bạn vừa ra trường lại tìm được việc ngay bằng chính năng lực của mình, còn bạn khác thì không.

Việc trao dồi, tích lũy kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức thực hành để có thể áp dụng trong công việc thực tế chính vẫn là do bản thân người tìm việc. Theo ông Nguyễn Pháo, Giám đốc Trung tâm giới thiệu việc làm Đà Nẵng: sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn có thể tìm được việc làm nếu chọn nghề hợp sức (nghĩa là công việc tương đối phù hợp với khả năng và có thu nhập), thay vì cứ đợi tìm cho được công việc hợp ý (chọn địa điểm công ty, ngành nghề… theo sở thích của mình)

Thử quan sát qua các phiên chợ việc làm, thường những ứng viên cần thu nhập sẽ chấp nhận vị trí tương đối phù hợp, thậm chí công việc chưa tương xứng với trình độ được đào tạo. Còn những người chưa bức bách cần tiền để trang trải cuộc sống đắt đỏ ở thành phố vì có “nhà tài trợ” như gia đình…thì thong thả, kiên trì chờ việc hợp ý hơn. Vậy phải đặt ra câu hỏi ngược là cử nhân đói dài vì thất nghiệp, hay thất nghiệp vì không sợ đói?

Nhiều người chê công việc không xứng trình độ, lương thấp nhưng bằng cấp cao, xuất phát thấp chưa hẳn là thất thế. Chắn hạn anh có bằng kỹ sư cơ khí, nhưng ra trường khó mà được người ta giao việc ngay vì anh thiếu kinh nghiệm. Vậy tại sao không thử xin vào làm công nhân cơ khí, thay vì mất thời gian dài chờ cho được việc đúng trình độ, thì anh có thời gian tích lũy kiến thức thực hành, quan sát công việc của các kỹ sư qua thực tế. Khi đã có kinh nghiệm thực tế như vậy thì chắc chắn cơ hội tìm được việc đúng ngành, đúng trình độ sẽ cao hơn.

Khánh Hiền

Cử nhân thất nghiệp: Bộ GD-ĐT nhận một phần trách nhiệm

Cử nhân thất nghiệp: Bộ GD-ĐT nhận một phần trách nhiệm

(Dân trí) – “Bộ GD-ĐT có phần trách nhiệm khi chất lượng đào tạo chưa tốt, nhiều sinh viên chưa đáp ứng được đòi hỏi của cơ quan tuyển dụng, đặc biệt là về tiếng Anh, tin học” – Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận thẳng thắn thừa nhận.

Tại phiên chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 22/3, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận đã trả lời những vấn đề nóng xoay quanh vấn đề chất lượng giáo dục đào tạo ĐH như hiện tượng sinh viên tốt nghiệp không có việc làm, có sự phân biệt trường công và tư…

Bất cập về chất lượng giáo dục
Mở đầu phiên chất vấn, đại biểu Ngô Văn Minh – Ủy viên thường trực Ủy ban pháp Luật phân tích và nêu câu hỏi: “Hiện nay tình trạng sinh viên tốt nghiệp không có việc làm khá phổ biến. Nguyên nhân là do mở trường, mở ngành tràn lan dẫn đến vừa rồi phải đóng cửa, dừng tuyển sinh ở nhiều ngành. Vậy tại sao không mở rộng quy mô đào tạo các trường đào tạo tốt hoặc có giải pháp để các trường ĐH danh tiếng trên thế giới liên kết để mở trường tại Việt Nam nhằm tạo cơ hội nâng cao chất lượng giáo dục… mà lại phải mở thêm trường?”.

Trả lời thẳng vào vấn đề, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho biết, việc cho mở rộng thêm quy mô đào tạo của các trường, trước hết là các trường có chất lượng tốt đã được triển khai trong thời gian vừa qua. Quy mô đào tạo 10 năm trở lại đây quy mô các trường này tăng gấp 2 hoặc hơn 2 lần và cũng tới hạn của nó.

“Chúng tôi cũng có quy định về định mức giáo viên, tỷ lệ sinh viên/giáo viên, quy định về diện tích định mức xây dựng, phòng học, thí nghiệm…Điều kiện để đảm bảo chất lượng cho SV. Ở tất cả những trường có uy tín và nói chung các trường ĐH của chúng ta hiện nay cũng tới giới hạn điều kiện đảm bảo chất lượng. Như vậy, ngoài việc tạo điều kiện cho các trường tốt, trường có truyền thống tham gia tích cực cung cấp nguôn nhân lực lao động chất lượng cao cho đất nước thì phải mở thêm trường. Việc mở thêm các trường còn liên quan đến các lý do khác như quốc phòng an ninh, đảm bảo các chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng ta mở nhưng không phải là tràn lan” – Bộ trưởng Luận nói.

Cử nhân thất nghiệp: Bộ GD-ĐT nhận một phần trách nhiệm
Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận tại phiên chất vấn trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 22/3. (Ảnh: NLĐ)
Cũng theo Bộ trưởng Phạm Vũ Luận thì vừa qua có một số trường không đảm bảo chất lượng nên Bộ GD-ĐT đã chấn chỉnh việc này trong quá trình thanh, kiểm tra. Việc làm này không chỉ tiến hành với các trường mới thành lập mà ngay cả những trường có truyền thống lâu đời. Những chuyên ngành/lĩnh vực nào trường không đảm bảo chất lượng đều phải dừng tuyển sinh lại để củng cố lực lượng, đây là chuyện bình thường.

Liên quan đến việc đưa các ĐH danh tiếng ở nước ngoài vào liên kết mở trường ở Việt Nam, Bộ trưởng GD-ĐT khẳng định: “Chúng ta có chủ trường khuyến khích mở các trường ĐH nước ngoài ở VN. Chính phủ không chỉ có chủ trường mà đã có quyết định đầu tư xây dựng ĐH Việt Đức, ĐH Khoa học Công nghệ (Việt Pháp), hai trường này đã đi vào hoạt động. Bộ GD-ĐT cũng có chỉ đạo để các trường chủ động liên kết với ĐH nước ngoài có chất lượng đảm bảo để mở các chương trình đào tạo tiên tiến. Hiện nay cả nước có gần 40 chương trình đào tạo tiên tiến”.

Chưa đồng tình hoàn toàn với cách giải thích của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT, đại biểu Ngô Văn Minh nhấn mạnh: “Tôi muốn đề cập vấn đến việc các trường ĐH danh tiếng vào Việt Nam mở trường”.

Chốt lại vấn đề của câu hỏi này, Bộ trưởng Luận cho hay: Chúng ta đã phát tín hiệu rất mạnh qua những lần lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước làm việc với nguyên thủ các nước có nền giáo dục phát triển. Tuy nhiên, đến nay chúng ta chưa nhận được tín hiệu. Qua tìm hiểu thì được biết, các trường ĐH danh tiếng không bao giờ mở cơ sở ở nước ngoài.

Đại biểu Đỗ Thị Thu Hằng (đoàn Đồng Nai) cho rằng, vấn đề đào tạo ĐH và sau ĐH hiện nay còn tràn lan, có hiện tượng học để hợp thức hóa văn bằng. Vậy Bộ GD-ĐT giải quyết như thế nào? Thẳng thắn thừa nhận, Bộ trưởng Luận chia sẻ, đúng là loại hình đào tạo hiện nay phong phú nhưng có tính phức tạp của nó. Bộ GD-ĐT đã có những giải pháp như yêu cầu phải đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ ở tại cơ sở trường, giảm chỉ tiêu đào tạo TCCN ở các trường ĐH và tiến tới là bỏ… Với việc Luật Giáo dục ĐH ra đời thì Bộ sẽ có hướng dẫn là sẽ thôi đào tạo tiến sỹ hệ vừa học vừa làm.

“Hiện nay chúng ta có tình trạng nhiều tiến sỹ nhưng lại thiếu nhà khoa học” – Bộ trưởng Phạm Vũ Luận lý giải việc thôi đào tạo tiến sỹ hệ vừa học vừa làm.

Không có sự phân biệt đối xử giữa trường công và tư

Liên quan đến việc chỉ tiêu tuyển sinh trường công ngày càng tăng khiến các trường tư gặp nhiều khó khăn, đại biểu Nguyễn Văn Phúc (đoàn Hà Tĩnh) cho rằng Bộ GD-ĐT không tạo điều kiện phát triển cho các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập ngang bằng với các trường công lập nó thể hiện qua việc xử phạt, trường không tuyển sinh được, không được ưu đãi về thuế.

Bộ trưởng Phạm Vũ Luận cho biết đã nhận được văn bản kiến nghị của Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập về vấn đề một số trường đại học dân lập không tuyển sinh được, một số trường bị Bộ “xử lý” trong vấn đề tuyển sinh.

“Chúng tôi đã làm việc với các thành viên trong Hiệp hội và giải thích, không có việc Bộ trù dập các trường đại học dân lập. Những trường ngoài công lập cũng như công lập mà không đảm chất lượng đều xử lý như nhau”, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận khẳng định.

Bộ trưởng Luận cũng cho rằng, cần phải xử lý nghiêm các trường không đảm bảo chất lượng, mất đoàn kết, tranh giành quyền lợi, mất môi trường sư phạm, không còn là gương sáng trước học sinh, xã hội. Còn những trường đại học dân lập chuẩn mực thì Bộ rất hoan nghênh.

Về vấn đề thuế, Bộ trưởng Luận thừa nhận là hiện tại có nhiều bất cấp do các quy định. Để tạo điều kiện tốt hơn cho các trường đại học dân lập, Bộ GD-ĐT đang đề nghị bỏ quy định phải bảo đảm diện tích xây dựng bình quân 55 m2 cho mỗi sinh viên mới được nhận ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, Bộ trưởng cũng cho biết việc cấp đất sạch cho các trường khó thực hiện do ngân sách không đủ để cân đối.

“Về vấn đề giao chỉ tiêu cho các trường thì hiện nay Bộ GD-ĐT đã giao cơ chế theo đúng tinh thần của Luật Giáo dục ĐH. Giám đốc, Hiệu trưởng các trường ĐH tự xác định chỉ tiêu của mình dựa trên định mức kỹ thuật do Bộ GD-ĐT ban hành. Bộ chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra, đơn vị nào vi phạm sẽ xử lý” – Bộ trưởng Luận giải thích về việc giao chỉ tiêu tuyển sinh hiện nay.

Kết quả
Kết quả bình chọn trên trang Dân trí từ ngày 21/3-23/3/2013

Sinh viên không có việc làm: Bộ GD-ĐT nhận một phần trách nhiệm

Vấn đề sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm trái ngành được nhiều đại biểu quốc hội quan tâm. Đại biểu Huỳnh Nghĩa (đoàn Đà Nẵng) chất vấn về các giải pháp bảo đảm việc làm, làm việc đúng ngành nghề được đào tạo cho sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ. Đặc biệt là đối với khối ngành sư phạm. Đại biểu cũng đặt ra vấn đề: tình trạng này có phải chăng các trường đang thương mại hóa giáo dục? Đây cũng là vấn đề mà đại biểu Lê Thị Nga – phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội quan tâm.

Bộtrưởng Phạm Vũ Luận đồng tình với ý kiến của các đại biểu về thực trạng sinh viên tốt nghiệp các trường đại học chưa tìm được việc làm, làm việc trái ngành. Đây là một thực tế diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực đào tạo.

Theo Bộ trưởng Luận thì nguyên nhân khách quan của tình trạng này là do công tác đào tạo và nhu cầu, khả năng sử dụng nguồn nhân lực còn có khoảng cách. Vấn đề quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của đất nước và của từng ngành nghề chưa được chú ý trong nhiều năm qua.

“Bộ GD-ĐT có phần trách nhiệm khi chất lượng đào tạo chưa tốt, nhiều sinh viên chưa đáp ứng được đòi hỏi của cơ quan tuyển dụng, đặc biệt là về tiếng Anh, tin học; chưa gắn kết chặt chẽ giữa các trường đại học với doanh nghiệp, thị trường lao động; quy mô, khả năng đào tạo của các nhà trường chưa được tính toán kỹ lưỡng” – Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thẳng thắn nhận một phần trách nhiệm.

Giải quyết vấn đề này, Bộ trưởng Luận cho hay, sẽ tính toán quy mô, chất lượng đào tạo của các trường, tổ chức hệ thống thông tin nhu cầu nhân lực của các ngành nghề. Trên thực tế, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo dừng mở mới các cơ sở đào tạo và các ngành đào tạo về tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh và kế toán. Bên cạnh đó, Bộ cũng bước đầu định hướng, thu hút học sinh, sinh viên vào một số ngành nghề mà một số địa phương đang có nhu cầu cao về nguồn nhân lực.

Nguyễn Hùng

Cử nhân đại học treo bằng đi làm công nhân

Cử nhân đại học treo bằng đi làm công nhân

(Dân trí) – Sinh viên ra trường luôn mong muốn có một việc làm ổn định phù hợp với chuyên ngành. Tuy nhiên hiện có không ít sinh viên khi ra trường phải “treo” tấm bằng cử nhân đi bán hàng lặt vặt hay làm công nhân để chờ cơ hội đến.

Đến nay tỉnh Bình Định chưa có con số thống kê cụ thể về số sinh viên (SV) ĐH, CĐ tốt nghiệp ra trường cũng như con số SV ra trường không có việc làm. Theo thống kê của Sở GD-ĐT Bình Định những năm gần đây, số lượng hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ qua Sở lên đến trên 50.000 hồ sơ. Hàng năm, các trường ĐH, CĐ trên địa bàn tỉnh đào tạo cả chục ngàn SV ra trường, đó là chưa kể hệ trung cấp nghề.

SV ra trường nhiều, trong khi các doanh nghiệp, công ty yêu cầu những lao động tay nghề có chuyên môn hay phải có kinh nghiệm 1 – 2 năm. Trong khi đó, chỉ tiêu thi vào cơ quan công chức nhà nước chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chính vì lẽ đó không ít SV ra trường rất khó có cơ hội tìm việc làm. Người may mắn xin được việc làm, người thì lại làm trái với chuyên môn, số nữa bất đắc dĩ phải làm nhân viên tiếp thị, bán café, làm công nhân…

Ghi nhận của PV Dân trí trong một phiên giao dịch giới thiệu việc làm tại Trung tâm Giới thiệu việc làm Bình Định trực thuộc Sở LĐ-TB&XH Bình Định tổ chức mới hiểu rõ con đường kiếm việc của những SV mới ra trường quả thật gian nan. Thậm chí có cả những người đã tốt nghiệp cả chục năm trời mà vẫn không xin được một việc làm ổn định.
Vẻ mặt đầy tâm trạng của cô gái trẻ tay cầm bộ hồ sơ đang đưa mắt tìm xem có công ty, doanh nghiệp nào tuyển dụng lao động phù hợp với chuyên ngành mình. “Em tìm nãy giờ mà công ty nào cũng yêu cầu kinh nghiệm làm việc từ 1 năm trở lên. Không cho thử việc thì lấy đâu ra kinh nghiệm…” – Phạm Thị Thu Trang (quê ở thị xã An Nhơn, Bình Định, tốt nghiệp ngành Kế toán, Trường Cao đẳng Tài chính – Kế toán Quảng Ngãi) chia sẻ.

Tốt nghiệp gần 2 năm nhưng đi xin việc chỗ nào cũng yêu cầu kinh nghiệm, có công ty vẫn nhận hồ sơ nhưng hẹn phỏng vấn sau, chờ “dài cổ” vẫn không thấy gọi. “Chán quá nên em phải đi làm nhân viên bán hàng cho một cửa hàng bán vật liệu xây dựng, lương tháng cũng chẳng bao nhiêu nhưng quan trọng là chẳng đúng với chuyên môn em học ra” Trang cho biết.

Không chỉ Trang mà chồng chị là anh Đỗ Ngọc Tiến (SN 1976, ở TP Quy Nhơn), anh Tiến tốt nghiệp ngành Quản trị kinh doanh trường ĐH Quy Nhơn năm 2005 nhưng đến nay vẫn là người thất nghiệp. “May mắn khi ra trường mình xin vào công ty nào cũng nhận nhưng lương bổng không ổn định nên cũng thay đổi liên tục. Sau đó anh qua Singapore làm một thời gian hết hợp đồng lại về quên. Đến khi tìm được chỗ làm lương tạm ổn thì công ty lại hết việc cho nghỉ nên giờ lại thất nghiệp. Hai vợ chồng mới cưới nhau nhưng cả hai đều đang thất nghiệp, dù muốn sinh con nhưng phải đợi xin được việc ổn định rồi mới tính” – anh Tiến tâm sự.

Không ít sinh viên sau khi ra trường nhưng không tìm được việc làm.
Cơ hội tuyển dụng vào công ty, doanh nghiệp đối với SV ngành kế toán, tài chính ngân hàng là rất khó so với lao động tay nghề phổ thông.
Một cán bộ Phòng Tư vấn Giới thiệu – Cung ứng lao động thuộc Trung tâm Giới thiệu việc làm Bình Định chia sẻ: “Những năm gần đây một số ngành như tài chính ngân hàng, kế toán ra trường thường dễ xin việc nhưng đã đến lúc bão hòa. Hiện tại các doanh nghiệp, công ty tuyển lao động qua trung tâm cần tuyển lao động có tay nghề thuộc lao động phổ thông hơn là những sinh viên các ngành này. Trong khi đó số lượng tuyển vào các bộ phận quản lý rất ít, SV mới ra trường chưa có kinh nghiệm. Vì vậy, tình trạng SV ra trường ngành này khó tìm được việc như ý muốn”.

Con đường xin việc của SV ngành Kinh tế, được xem ngành được ưa chuộng hiện nay còn lâm vào bế tắc, nói gì đến một số lượng không ít SV khối ngành Sư phạm lại càng “thê thảm”. Sẽ có nhiều trường hợp chắc không bao giờ dám mơ có một ngày được đứng trên bục giảng dạy học trò như mơ ước.

Trường hợp Đoàn Thị Thu Thủy (huyện Tây Sơn, Bình Định) là một ví dụ. Tốt nghiệp nghiệp Trường CĐ Sư phạm Bình Định đã 3 năm nay nhưng Thủy chưa một lần được đứng trên bục giảng, ngoài thời gian ngắn ngủi đi thực tập. Từ ngày ra trường, bất kể trường nào thông báo tuyển giáo viên, Thủy đều nộp hồ sơ nhưng tất cả chỉ là con số O.

Quãng thời gian thất nghiệp đó Thủy từng làm nhân viên tiếp thị trao đổi café gần 1 năm trời, rồi bưng bê café để khỏi phải ăn bám ba mẹ. “Bạn bè lớp em ra trường đi dạy thì ít, đi làm thuê thì nhiều, có đứa lấy tấm bằng xong không xin được đi dạy bỏ vào Sài Gòn làm công nhân may. Lần này em nộp hồ sơ xin vào làm nhân viên lễ tân để chờ trường nào tuyển giáo viên lại nộp tiếp. Bây giờ chỉ cần được dạy, dù đi miền núi làm giáo viên hợp đồng em cũng chịu” – Thủy chia sẻ với giọng buồn.
Đó là chưa kể một sinh viên ngành Sư phạm muốn đi dạy cần phải có “tiền lót đường”. Vừa tốt nghiệp Tổng hợp Sinh Trường ĐH Quy Nhơn năm vừa ngoái mang theo mơ ước được làm cô giáo của cố giáo thất nghiệp Phạm Thùy Dung ở xã miền núi nghèo của tỉnh Phú Yên trở nên quá xa vời. Dung chia sẻ: “Ngành em học chính là đi dạy nhưng nếu không đi dạy có thể làm bên y tế nhưng khổ nỗi xin việc bây giờ đâu phải dễ. Dù cũng có người quen làm ở huyện nhưng để được đi dạy cũng phải lo lót còn không quen thì cả 60 – 70 triệu đồng, có bán cả gia tài cũng không chạy ra số tiền lớn như vậy. Em dự định sẽ kiếm việc gì làm thêm học lên cao học may ra con đường xin việc sẽ rộng mở hơn..”.

Doãn Công

Đại học chất lượng thấp và thực trạng “lò mổ” tú tài

Đại học chất lượng thấp và thực trạng “lò mổ” tú tài

(Dân trí)-“Chúng ta không đào tạo nhiều hơn xét về mặt tỷ lệ so với các nền kinh tế khác tại thời điểm cùng trình độ kinh tế. Tại sao các cử nhân lại thất nghiệp nhiều như vậy? Vấn đề chỉ có thể nằm ở chất lượng đào tạo của hệ thống ĐH, CĐ ở Việt Nam”…

Samsara là một bộ phim tài liệu tuyệt đẹp, hoàn toàn không có lời thoại của đạo diễn Ron Fricke, được quay tại 25 quốc gia, trong thời gian 5 năm liên tục (từ 2006 đến 2011). Samsara trình chiếu các thắng cảnh thiên nhiên phi thường, những nét văn hóa độc đáo, sự tàn phá của bão lũ, hậu quả của chiến tranh, cuộc sống công nghiệp, các lễ hội hành hương của người hồi, điệu múa của người Khmer… qua những thước phim có thể nói là độc nhất vô nhị.

Đại học chất lượng thấp và thực trạng “lò mổ” tú tài
Theo quan điểm của bài viết, hình ảnh các tân tú tài xếp hàng đi thi ĐH, CĐ, và những sai lầm lại tái diễn, giống như những đàn gà xếp hàng đi vào lò mổ…

Một trong những cảnh quay ấn tượng của phim là cảnh hoạt động của các lò mổ gà hiện đại. Khởi đầu dây chuyền là các cỗ máy khổng lồ đi xúc các chú gà được nuôi trong trang trại, đặt chúng lên các dây chuyền tự động. Để sau đó, với các đôi mắt ngơ ngác, hàng ngàn con gà nối tiếp nhau từng bước đi vào cỗ máy chế biến. Ở đầu ra bên kia, các công nhân đứng kiên nhẫn lọc các miếng da và mỡ còn sót lại của những chú gà đã bị sẻ thịt và đóng vào các bịch đáy xốp phủ ni lông, sẵn sàng để đưa ra siêu thị. Đó là câu chuyện của các chú gà.

Còn câu chuyện của các sinh viên Việt Nam thì sao?

Vấn đề chọn sai trường, sai nghề, và những bi kịch đau lòng của các cử nhân thất nghiệp, những bạn trẻ ra trường phải làm trái nghề với đồng lương rẻ mạt, hay những kiếp nghèo dai dẳng bám đuổi cả đời những người khoác áo cử nhân là những câu chuyện không mới, không lạ, thậm chí rất phổ biến trong xã hội Việt Nam hiện đại. Thế nhưng cứ mỗi mùa hè tới, không ít tân tú tài tốt nghiệp PTTH lại lũ lượt xếp hàng đi thi đại học – cao đẳng, và những sai lầm chết người lại tái diễn, giống như những đàn gà xếp hàng đi vào lò mổ.

Cái khó hiểu là câu chuyện đã được mổ xẻ nhiều, qua các phương tiện truyền thông và các diễn đàn xã hội, nhưng hiện tượng tệ hại này vẫn đâu hoàn đấy. Lỗi tại ai?

Nỗi cay đắng mang tên đại học

Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh Xã hội (bản tin cập nhật thị trường lao động VN quý 2, 2014), tỷ lệ thất nghiệp chung của lực lượng lao động Việt Nam là 2,21%. Trong khi đó, chúng ta có 162,4 nghìn cử nhân đại học thất nghiệp và 79,1 nghìn cử nhân cao đẳng thất nghiệp (không kể cao đẳng nghề). Với tổng số 5,2 triệu người có bằng cao đẳng trở lên trong lực lượng lao động, con số thất nghiệp trong nhóm này là 4,65%, cao hơn gấp đôi so với tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn bộ lực lượng lao động (2,21%).

Nếu tính riêng hai nhóm có bằng đại học/cao đẳng trở lên và nhóm không có các bằng cấp này thì nhóm ít bằng cấp hơn chỉ có tỷ lệ thất nghiệp khoảng 1,95%. Có nghĩa là nhóm người có bằng đại học/cao đẳng trở lên có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nhóm người ít bằng cấp hơn tới 2,4 lần.

Nhưng đó chưa phải là điểm kết của thảm họa. Phần lớn số thất nghiệp rơi vào các tân cử nhân. Theo ông Nguyễn Bá Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 3 tháng đầu năm nay có tới hơn 21% thanh niên độ tuổi 20-24 có trình độ đại học trở lên không tìm được việc làm. Có nghĩa là cứ 10 tân cử nhân đại học thì ít nhất có tới 2 người không có việc làm. Điều này thực sự là một thảm họa.

Có hai bí ẩn đặc biệt lớn. Thứ nhất, tại sao các cử nhân của chúng ta lại thất nghiệp nhiều như vậy? Phải chăng là chúng ta đang “thừa thày thiếu thợ” như nhiều người vẫn nói? Hay ở một góc nhìn khác, nền kinh tế non kém của chúng ta không đủ khả năng hấp thụ từng đấy “tinh hoa” do hệ thống đại học/cao đẳng sản xuất ra hàng năm? Thứ hai, tình trạng thị trường lao động như vậy các tân tú tài có biết không? Nếu biết thì tại sao biết thất nghiệp nhiều như vậy mà các tân tú tài của chúng ta vẫn xếp hàng vào đại học/cao đẳng như đàn gà xếp hàng vào lò mổ? Dẫu biết rằng “cơ hội” để thất nghiệp khi khoác lên mình tấm áo cử nhân tăng lên những 2,4 lần so với không đi học các trường này, và đặc biệt “cơ hội” thất nghiệp sau khi ra trường lên tới 21%?

Đại học chất lượng thấp và thực trạng “lò mổ” tú tài
Chất lượng quá thấp, đến mức thị trường lao động không tải nổi là nguyên nhân khiến rất nhiều cử nhân thất nghiệp.

“Lò mổ” của các tú tài

Thực ra tỷ lệ người có bằng đại học/cao đẳng trong lực lượng lao động ở Việt Nam không phải lớn (5,2 trong số 53,6 triệu, chiếm 9,7%) và câu chuyện không phải nằm ở chỗ Việt Nam có quá nhiều cử nhân đại học/cao đẳng mà nhiều người vẫn nói. Tỷ lệ này ở Việt Nam không hề cao, thậm chí là thấp. Đây không phải là câu chuyện so với Mỹ (65,4%) vì Mỹ đã đi trước Việt Nam hàng trăm năm, mà chỉ cần so với Thái Lan hay Malaysia là đủ. Tỷ lệ này ở Thái Lan năm 2012 là 17% còn ở Malaysia là 24% theo Ngân hàng Thế giới.

Thế nhưng ngay cả với Thái Lan và Malaysia thì Việt Nam cũng đi sau họ vài thập kỷ, vì thế tỷ lệ 17% ở Thái Lan và 24% ở Malaysia có thể cũng không nên dùng để so sánh với Việt Nam. Đáng tiếc là Ngân hàng Thế giới không có số liệu khoảng 20 năm trước ở Thái Lan và Malaysia, vì thế khó so sánh.

Số liệu “xưa” nhất mà WB có với Thái Lan và Malaysia là vào năm 2008 với tỷ lệ 15% và 21%. Như vậy sau 4 năm, Thái Lan tăng 2% (trung bình 0.5% mỗi năm) còn Malaysia tăng 3% (trung bình 0.75% mỗi năm). Nếu dùng tốc độ trung bình này để tính ngược lại vào thời điểm mà Thái Lan và Malaysia có tỷ lệ giống như Việt Nam hiện nay (9,7%) thì sẽ vào năm 1993 đối với Malaysia và 1997 đối với Thái Lan. Tại các thời kỳ này GDP bình quân đầu người của Thái Lan (khoảng 2500 USD vào năm 1997) và Malaysia (khoảng 3400 USD vào năm 1993) đều cao hơn GDP bình quân đầu người Việt Nam hiện nay (khoảng 2000 USD).

Thế nên xét về tương quan với GDP bình quân đầu người thì có vẻ như Việt Nam đào tạo nhiều cử nhân hơn hai nước bạn hồi GDP bình quân đầu người tương tự Việt Nam hiện nay (theo cách ước lượng tuyến tính ở trên). Dẫu sao, công nghệ trong 20 năm qua có sự thay đổi rất nhanh, và vì thế nhu cầu đối với các cử nhân có lẽ cũng cao hơn hồi 20 năm trước. Vì thế tạm kết luận tỷ lệ 9,7% cử nhân trong lực lượng lao động của Việt Nam trong thời điểm này là không quá cao và cũng không quá thấp.

Mà nếu nhìn như vậy, thì câu chuyện thất nghiệp của các tân cử nhân ở Việt Nam không phải do vấn đề “thừa thày thiếu thợ”. Hệ thống đại học/cao đẳng của chúng ta không phải tạo ra nhiều cử nhân đến mức vượt xa nhu cầu của nền kinh tế non kém hiện tại. Chúng ta không đào tạo nhiều hơn xét về mặt tỷ lệ so với các nền kinh tế khác tại thời điểm cùng trình độ kinh tế.

Vậy thì tại sao các cử nhân lại thất nghiệp nhiều như vậy? Vấn đề chỉ có thể nằm ở chất lượng đào tạo của hệ thống các trường đại học/cao đẳng ở Việt Nam. Nó chỉ có thể được giải thích bằng lý do duy nhất là hệ thống này nhìn chung có chất lượng quá thấp, quá tệ hại, đến mức mà thị trường lao động không muốn, và không tải nổi, một phần sản phẩm do hệ thống này đào tạo ra và vì vậy họ trở nên thất nghiệp.

Nhiều tân tú tài, vô tình hoặc cố ý, đã biến mình thành các nạn nhân tại nhiều trường đại học/cao đẳng như vậy. Những trường này tồn tại không khác gì một thứ lò mổ đón chờ các tân tú tài đến nộp mạng, vừa phí tiền, phí thời gian, không học được cái gì mới, tốt, thay vào đó lại nhiễm phải các thói quen, cách làm việc tệ hại, lười biếng, từ đó giết chết tương lai của họ.

TS. Trần Vinh Dự – TS. Đàm Quang Minh